🐈‍⬛ Truyện Ma Ngủ Với Người

Ver mais da Página Hội những người đam mê truyện ngược : Ngược ! Ngược nữa ! Ngược mãi no Facebook "Nơi đông người phải giữ miệng, ở một mình phải kìm lòng, với người lạ đừng gần gũi" 39. Đừng yêu quá nhiều, đừng ngủ quá muộn. 40. Thích hay không thích, hợp 16. Họ Đã Ngủ Với Nhau Xếp hạng: 5/5 - 1 Lượt đánh giá. Đọc từ đầu Theo dõi Thích. Cảnh báo độ tuổi: Truyện tranh Họ Đã Ngủ Với Nhau có thể có nội dung và hình ảnh nhạy cảm, không phù hợp với lứa tuổi của bạn. Nếu bạn dưới 18 tuổi, vui lòng chọn một truyện khác để giải trí. Có ở rể hay không hoàn toàn không có ý nghĩa gì với ta hết, trong nhà nàng có thể có người cảm thấy có, người bên ngoài cũng có thể thấy vậy, nhưng trên thực tế thì không, cho dù ta cưới nàng kiểu gì đi nữa, thì kết quả đều như nhau. Đừng giật mình nói mớ, ngủ cho ngon. Mai khôn lớn, đường vui con bước mãi. Mẹ gạt nhành gai khỏi vướng gót chân son. Lấy xong bột mẹ về, con cũng vừa thức giấc. Mẹ lại tiếp cho con bầu sữa nóng thiên nhiên. Hơi thuốc súng tan vào hơi gió mát. Tiếng ầu ơ, mẹ gọi ánh Nhân vật chính trong Thành phố ngủ gật là một chàng trai 25 tuổi, sống trong một khu nhà bỏ hoang, hàng ngày đi mổ gà thuê. Cuộc sống cứ như vậy diễn ra cho đến một ngày xuất hiện ba gã đàn ông không rõ danh tính đến lẩn trốn ở một căn phòng cùng khu nhà. Sau đó, xuất hiện thêm một cô gái khiến mọi bất thường bắt đầu xảy ra. Phiên bản Người đẹp ngủ trong rừng của Giambattista Basile là Mặt trời, Mặt trăng, và Talia, người đẹp ngủ trong rừng Talia chìm vào giấc ngủ sâu sau khi bị một mảnh lanh đâm vào ngón tay. Một vị vua lang bạt phát hiện ra cô, rồi "đưa nàng lên giường, nơi anh ta thu hoạch những trái ngọt đầu tiên của tình yêu." [9] 176. - Con nó ngủ chưa anh. - Anh qua xem rồi, con nó ngủ rồi em an tâm. Sau đó là tiếng sột soạt, và tiếng mẹ tôi càu nhàu: - từ từ thôi anh, làm gì mà như ma đói thế…. - Hi hi nay anh hứng quá, cho anh hôn cái nào. Nhìn lên tấm màn tôi thấy ba và mẹ chắc đang ôm nhau 2. Truyện ngụ ngôn Người lái buôn và con lừa. Người lái buôn phải thường xuyên vào thành để mua đồ, và chất lên vai Lừa để trở về nhà. Con Lừa của người lái buôn nghĩ rằng mình rất thông minh, lúc nào cũng thích động não, nghĩ mọi cách để có thể khiến cho đồ Tiếp đó, người nông dân bước ra, và giả như đang giấu một con lợn trong áo ( nhưng anh ta có giấu thực, mà khán giả lại không ngờ). Anh ta ôm nó trong lòng và nhéo tai để nó kêu. Khán giả, tuy thế, lại đồng thanh la lên rằng anh hề làm giống hơn nhiều, và gào lên bảo anh 5s9GZDg. 𝗡𝗴𝗼𝗮̣𝗶 𝘁𝗿𝘂𝘆𝗲̣̂𝗻 𝗽𝗵𝗮̂̀𝗻 𝟮 𝗛𝗼̂̀𝗻 𝗠𝗮 𝗔 𝗣𝗵𝗼𝗻𝗴 𝗢̛̉ 𝗣𝗵𝗼́ 𝗕𝗮̉𝗻𝗴Mỗi lần lừa đảo xong một người, thằng bé đều được Phàm và Sảng cho ăn uống rất ngon, lại được mua quần áo mới. Không một ai biết rằng, khi màn đêm buông xuống, nó vẫn không thể nào ngủ nổi. Nó nhớ về bờ tường rào bằng đá, nhớ cây hoa đào hồng rực trước sân nhà, nhớ về mẹ nó. Nó tưởng rằng mình sẽ không thể nào gặp lại mẹ mình nữa, cho đến một ngày nọ. Hôm ấy... nó ngủ cùng với người chết. .........................................................Lúc ấy là vào khoảng 2 giờ sáng. A Phong đang ngủ trong phòng thì nghe thấy tiếng quát tháo ở bên ngoài căn nhà. Ngôi nhà này nằm ở đồng hông mông quạnh, có gào thét đến khản cả cổ thì cũng chẳng có ai nghe thấy gì. Huống chi căn nhà này thường xuyên “đón tiếp” những đứa trẻ bị bắt cóc, chúng giãy giụa la hét rồi bị đánh đập là chuyện thường ngày. Nghĩ thế nên A Phong chỉ lẳng lặng ôm gối ngủ tiếp, mà chẳng hề bận tâm. Thế nhưng, thằng bé ngủ chưa được bao lâu thì đã bị mụ Sảng gọi dậy. Mụ chỉ nói ngắn gọn rằng có việc phải đi gấp trong đêm. A Phong cũng chẳng buồn hỏi lại, nó chỉ mặc quần áo rồi lẳng lặng bước ra ngoài. Mụ Sảng và gã Phàm đã ngồi sẵn ở trên xe, thùng xe phía sau có hai đứa bé trai song sinh nhìn giống nhau như hai giọt nước. Trên người bọn chúng đều mặc bộ y phục của người H’Mong. Đứa nào đứa nấy đều khóc lóc vật vã, mặt mũi đỏ au. Gã Phàm quay ra đằng sau chửi bới “Mày có im đi không? Tao bóp cổ chúng mày chết bây giờ.” Hai đứa trẻ vẫn không ngừng khóc, mụ Phàm uể oải nói với A Phong “Mày lo liệu chúng nó đi...Đừng để bọn nó khóc nữa.” A Phong ngồi xuống cạnh hai đứa nhỏ. Hai anh em song sinh này khoảng chừng bốn tuổi. Một trong hai thằng bé nín khóc im lặng nhìn người ngồi bên cạnh để quan sát. A Phong nói tiếng H’Mong với chúng nó “Hai đứa tên là gì?” Nghe thấy ngôn ngữ quen thuộc, cả hai đứa có vẻ bớt sợ. Chúng chỉ len lén nhìn, một hồi sau mới nói “Khóm” “Sình” “Mấy tuổi rồi?” Cả hai lắc đầu không biết. A Phong mỉm cười móc trong túi ra hai cái kẹo cho bọn nó. Trong kẹo vốn được tẩm thuốc mê, đây là thứ hữu hiệu khi muốn bắt cóc lũ nhỏ. Lúc thằng bé tên Sình định giơ tay lấy thì A Phong rụt lại, đổi bằng hai cái bánh ngon lành. Ngay cả chính nó cũng không hiểu vì sao mình lại làm như vậy. Sình với Khóm ăn bánh xong, bụng đỡ đói, lại có người biết ngôn ngữ của chúng ở bên cạnh nên cũng bớt sợ đi ít nhiều, mặc dù vẫn còn dáo dác nhìn xung quanh. Xe vẫn chạy băng băng trên đường, hai kẻ kia đang vội vã đưa đôi song sinh đến địa điểm bàn giao cho khách hàng. Tiền kiếm được từ việc bán những đứa bé trai không hề nhỏ, lại là song sinh nên giá càng gấp đôi. Điều ấy khiến mụ Sảng có vẻ vui vẻ hết mức, mụ vừa đi vừa ngân nga trên đường. Điều cả ba người không thể ngờ rằng, đó là vào lúc ba giờ sáng, cả hai đứa bé kia đều trở lên kì lạ. .................................... Lúc ấy xe đang đi ngang qua một đường hầm xuyên qua núi. Chiếc đồng hồ trên xe vừa nhấp nháy con số 303, lập tức Sình và Khóm run lên bần bật, mắt đảo như rang lạc. A Phong đang thiu thiu ngủ bên cạnh nghe thấy tiếng động lạ bèn giật mình, quay sang bên cạnh. Đường hầm rất tối, nhưng lại là đường hai chiều nên vẫn có thể lợi dụng ánh sáng từ những chiếc xe đi ngược chiều để nhìn mọi thứ xung quanh. Khoảnh khắc ấy, tim A Phong sững lại vì sợ. Tròng mắt của hai đứa trẻ kia đột ngột chuyển sang màu đỏ quạch. Sình và Khóm không khóc nữa mà quay ra cười khành khạch. A Phong chưa kịp lay mụ Sảng dậy thì đã nghe thấy tiếng thằng Sình rít lên the thé “Ba đứa mày... ba đứa mày... sẽ chết không được yên. Tao sẽ nguyền cho chúng mày chết không còn một mảnh xác.” Giọng của thằng bé khàn đặc, trầm trầm hệt như giọng của một người đàn ông. Sảng và Phàm đương nhiên không hiểu tiếng Mông nên hoảng sợ đến đờ người. Đôi tay bám trên vô lăng của gã Phàm run lên bần bật. Sình chưa dứt lời, lập tức Khóm phụ họa theo “Chúng mày.... chúng mày... chết... hự... chết...” Thằng bé vừa nói đến đâu thì từ trong khóe miệng của nó tuôn ra òng ọc những máu là máu. A Phong soi đèn pin vào để nhìn cho rõ thì toàn những cục máu lổn nhổn màu đen sì. Mụ Sảng thảng thốt kêu lên bằng tiếng Trung “Thế này... thế này là sao?” Gã Phàm tuy phải tập trung lái xe, nhưng ánh mắt không ngừng liếc về đằng sau. Mũi hơi nhăn lại vì mùi tanh nồng hòa quyện với mùi thum thủm từ chuột chết từ đâu vẳng lại. Khi chiếc xe vừa mới thoát ra khỏi đường hầm thì tiếng của A Phong vang lên khô khốc “Hai đứa nó chết rồi...” Một bầu không khí nặng nề bao trùm lấy cả xe. A Phong tiếp tục “Bây giờ xử lý thế nào?” Sảng lắc đầu, nói với gã Phàm “Lát nữa đem chôn hai đứa nó đi. Thứ này.... không thể moi nội tạng ra được.” Vừa nghe đến đó, A Phong nuốt nước bọt cái ực. Nó không dám nghe tiếp, chỉ lẳng lặng lấy chiếc chăn bẩn thỉu ở phía sau để trùm lên hai người đứa bé kì lạ kia. Xe đi thêm một đoạn nữa thì quay trở về con đường cũ. Giao dịch thất bại, cuộc hẹn với khách hàng cũng bị hủy ngang. Điều đáng lo hơn cả là hai đứa trẻ trước khi chết đã nguyền rủa cả ba người. ..........................................Suốt những ngày sau đó, Phàm và Sảng bắt A Phong phải kể đi kể lại về những gì mà hai đứa bé đã nói trên xe. Cuối cùng, thằng bé phát bực “Sao mà cháu biết được? Ở bản ngày xưa còn có một ông thầy mo...” Câu nói tưởng chừng như vô tình ấy lại khiến cho hai kẻ buôn người kia suy nghĩ. Vào mùa đông năm ấy, chúng đưa A Phong về nhà gặp lại mẹ đẻ để tìm hỏi ông thầy mo trong bản làng. Để có thể đi đến quyết định cuối cùng này, cả hai đã phải cân nhắc từ rất lâu. Gã Phàm sợ rằng A Phong sẽ thừa cơ để trốn lại, nhưng điều này chưa chắc đã nguy hại bằng việc bị một lời nguyền quái dị treo lơ lửng trên đầu. Phàm những kẻ hay làm ác thì thường sợ bóng sợ gió, lại thêm việc A Phong cũng bị nguyền rủa càng khiến chúng tin rằng A Tú sẽ vì con mà lặn lội nhờ thầy mo trong bản làng đến giúp. Chính vì thế mới có chuyện A Phong trở về tìm mẹ. Nghe xong câu chuyện, A Tú lạnh cả người. Gã Phàm suy đoán rằng, hai đứa trẻ con kia cũng ở trong bản như A Phong. Vì gã bắt được hai thằng bé đi lang thang thất thểu ở trên đường. Khi nghe kể lại như thế, A Tú lắc đầu, quanh bản này không hề có vụ mất tích nào, càng không có gia đình nào sinh được hai đứa trẻ quái lạ như thế. Bản khác cách nơi này vài dãy núi, A Tú cho rằng hai đứa nhỏ kì lạ kia là người của bản bên. Chỉ là suy đoán vậy thôi, chứ thực ra, xuất thân của cả hai đứa ở đâu không quan trọng bằng việc đi tìm ông thầy mo để giải quyết vấn đề này. A Tú tất tả đi tìm thầy ngay trong đêm, nhưng ông cụ đã đi xuống dưới huyện, chưa thấy về. Phải đến mấy ngày sau, A Phong mới gặp được. Vừa nhìn thấy A Phong, ông thầy mo đã ngỡ ngàng như không thể tin nổi vào mắt mình. Đứa trẻ này mất tích đã lâu, người trong bản ai cũng nghĩ là đã bị quỷ tuyết tha đi rồi, sao giờ bỗng dưng xuất hiện ở đây? Mặc dù thắc mắc như vậy, nhưng ông thầy mo cũng chẳng hỏi nhiều. Thứ làm ông thấy tò mò hơn cả là sau lưng A Phong có hai vong hồn lảng vảng. Dù là vong trẻ con, nhưng oán khí lại ngút trời, ngay cả người như ông cũng phải kiêng dè. Ông gặng hỏi A Phong, thằng bé thật thà kể lại. Nghe đến đâu, ông thầy mo lặng người đi vì sợ đến đó. Ông lắc đầu từ chối, đoạn lại nói rằng sức của mình có hạn, chẳng thể nào giúp được. A Tú lộ rõ gương mặt thất vọng, nhưng cũng chẳng biết làm gì hơn. Trước khi quay lưng bỏ đi, ông cụ có quay lại dặn dò một câu “Lời nguyền của người trước khi chết nó ghê gớm lắm. Người ta dành cả oán niệm cuối cùng để nguyền rủa. Chỉ e là....” Mấy ngày hôm sau, chẳng hiểu vì duyên cớ gì mà ông thầy mo chết hộc máu mồm rồi qua đời vội vã. Người trong bản vội vàng làm đáng tang cho ông theo tục lệ. Điều đáng nói là vào buổi sáng trước khi chết, ông còn lẩm bẩm một mình “Thằng bé ấy sau này sẽ chết vì tình. Đến khi chết vẫn luẩn quẩn không yên...” Nói xong ông thở dài, để rồi vài tiếng sau đó ông lìa đời. Cán bộ từ trạm kiểm lâm chạy đến đưa ông lên trên chiếc xe bò để chở xuống bệnh viện nhưng không kịp. Bác sĩ bảo rằng ông bị đột quỵ. .....................................Đột quỵ là như thế nào, người trong bản chẳng hề hiểu rõ. Người ta chỉ bàn tán nhau về cái chết quái dị của ông thầy mo. Ai cũng bảo ma rừng không bắt được ông, chỉ có thể là quỷ tuyết. Còn vì sao có quỷ tuyết xuất hiện thì chẳng ai biết được. Lời bàn tán ấy đến tai mẹ con A Tú, dù chẳng hề nói ra nhưng A Tú hiểu rằng ông thầy mo đang nói đến con trai mình. Ở cái tuổi vô tư này, con nhà người ta còn lo ăn lo ngủ, còn A Phong đã sớm già hơn so với tuổi. Nhiều khi cô cứ nghĩ, con trai mình không giống với một đứa trẻ bình thường. Từ ngày ông thầy mo chết, Sảng và Phàm đi khắp nơi để tìm thầy bói. Hễ nghe tin ở đâu có thầy bói giỏi, cả ba người đều mò đến. Thêm vào đó, A Phong vẫn phải tiếp tục công việc lừa đảo để đem người qua biên giới. Càng về sau, thủ đoạn buôn người của bè lũ thổ phỉ càng tinh vi. Chúng ưu tiên bắt những đứa trẻ con còn nhỏ để dễ dàng cho vào bao tải. Sau đó đi dường vòng qua bức tượng cụt đầu ở trong rừng để đến khu rừng biên giới. Khi đến ranh giới giữa Trung Quốc và Việt Nam, sẽ có người cõng đứa trẻ trên lưng để trốn chui trốn lủi trong rừng. Để cho trẻ không khóc, bọn chúng nghĩ ra cách cho trẻ uống miên dược. Nếu trót lọt thì không sao, nếu gặp bất trắc thì phải thủ tiêu người ngay. Đó cũng chính là lý do ở mạn biên giới vô số những thi hài vô thừa nhận, được an táng qua loa ở ven đường. Rất nhiều lần Phàm muốn bắt cóc trẻ con trong bản, nhưng A Phong không đồng tình. Lại thêm hai cái chết của anh em sinh đôi vẫn sờ sờ ở đó, có chết chúng cũng chẳng dám động tay. Người làng trông thấy A Phong trở về thì lo sợ, nhưng tuyệt nhiên chẳng ai dám hỏi han câu gì. Chỉ thỉnh thoảng có vài người trong đồn biên phòng đến hỏi thăm, A Phong kín miệng không nói nửa lời. Ấy là vì Phàm và Sảng đã đe dọa hai mẹ con, nếu nói ra tung tích của chúng thì cái mạng của cả hai mẹ con cũng chẳng còn. Một ngày cuối năm, cơn mưa giông bất ngờ ập đến, A Phong nhận được tin báo phải đi cùng Phàm và Sảng đến một thị trấn nhỏ gần biên giới. A Phong cảm thấy rất ngạc nhiên, vì từ trước đến giờ bọn Phàm Sảng chưa bao giờ cướp của. Đêm mưa gió hôm ấy, Phàm đứng trước cửa để gọi người trong nhà ra mở cửa. Khi vào được đến nhà, nhân lúc người chồng không chú ý, Phàm đâm một nhát xuyên từ lưng ra đến tim. Người kia chết không kịp kêu một tiếng. Người vợ hoảng hốt định chạy ra ngoài kêu cứu thì bị Sảng đâm một nhát vào ngực, lúc rút con dao ra ngoài, máu tóe lên vào chiếc gương trang điểm kê ngay bên đầu giường. A Phong bước ra đằng sau để tìm kiếm vàng. Theo như lời Phàm kể lại, nhà này chỉ có hai vợ chồng và một đứa con gái, gia cảnh sung túc, chắc chắn có vàng trong nhà. Thằng bé nhìn quanh quẩn bên căn bếp nhỏ xíu đầy bồ hóng, chẳng có gì cả ngoài làn gió thổi thốc vào. Đúng lúc ấy, nó nhìn thấy một con bé con ngồi trong xó ôm theo con chó con. Khoảnh khắc bắt gặp ánh mắt ấy, A Phong cảm thấy có một luồng điện chạy dọc người. Nó đặt ngón tay chạm vào môi rồi khẽ lắc đầu, tỏ ý bảo con bé đừng lên tiếng. Chưa đầy một phút sau, Phàm và Sảng xuất hiện. Cả ba nhìn xung quanh rồi rời đi ngay trong đêm mưa gió. Lúc đi qua hai cái xác, A Phong không khỏi rùng mình một cái. Con bé kia, kể từ đêm nay, đã chính thức trở thành trẻ mồ côi thật rồi. ......................................Những năm tháng sau đó, ánh mắt trong veo nhưng tràn ngập nỗi sợ hãi của con bé cứ ám ảnh lấy A Phong. Vào năm thằng bé 16 tuổi, Phàm bắt được ba đứa con gái định đem qua biên giới để bán vào nhà thổ. Cả bọn trong đám người thi nhau làm nhục ba cô thiếu nữ ấy. Phàm đẩy A Phong vào một đứa con gái, nhưng thằng bé lạnh lùng chối từ. Đám người còn lại cười phá lên khoái chí. Chúng ăn uống no say rồi mê đi trong cơn phê của thuốc phiện. Khi chỉ còn lại A Phong và mấy cô gái không một mảnh vải che thân. A Phong lạnh lùng quay mặt đi, vất cho cả ba một bọc quần áo. Họ định rủ nhau quyên sinh, A Phong lắc đầu “Chết là sự lựa chọn của kẻ hèn nhát. Mấy chị đi đi.” Ba người kia không thể tin nổi vào tai mình. A Phong phát cáu “Đi đi! Bọn chúng nó dậy là chết cả lũ biết chưa?” Cả ba người lúc này mới sực tỉnh, vội vội vàng vàng chạy trốn vào trong rừng. Chỉ còn lại A Phong đứng thẫn thờ nhìn theo trong bóng tối. Cậu đã từng nghe A Phủ được Mị cởi trói cho trong tác phẩm của nhà văn Tô Hoài. Giây phút ấy, A Phong khẽ mỉm cười chua chát “Ai sẽ cởi trói cho mình đây?” Bỗng một cơn nhói đau ở phía sau, cảm giác lạnh buốt xoáy chặt vào tim gan. A Phong lảo đảo quay lại, nhìn thấy gã Phàm đang đứng nghiến răng kèn kẹt. Giọng gã gầm gừ “Thằng chó! Sao mày thả cho chúng nó đi?” A Phong cười nhạt, lê thân tàn đến gần pho tượng cụt đầu. Máu chảy ra càng nhiều, hai mắt cậu càng dại đi. Trước mắt A Phong là căn nhà có cây đào hồng rực ở trước sân, có nụ cười của mẹ, và ánh mắt trong veo của cô bé cậu gặp đêm nào. A Phong thì thầm “Anh sẽ ở Phó Bảng đợi em.” Trời đất bỗng nhiên tối sầm lại. Đêm ấy trời rất lạnh, một hạt tuyết lất phất bay trên thi hài người thanh niên trẻ tuổi.......................................................................Đám ma khô của A Phong diễn ra gần mười lần, nhưng vị thầy mo mới của làng chẳng thể nào tiễn cậu về thế giới của người âm. Mười lần gióng tre tung lên là mười lần giống nhau y đúc. Vào một ngày xuân, không biết rõ năm nào, một đám tang của nữ chiến sỹ công an diễn ra trong cơn giông bão. Đồng đội tiếc thương cô, vị chỉ huy già đứng lặng người trước di ảnh của đứa cháu ruột. Lòng ông quặn đắng. Cuối cùng, vẫn là người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh. Không ai biết ở dưới gốc cây hoa đào ở xa xa, một chàng trai mặc chiếc áo sơ mi trắng đã ngả màu đứng đợi người thương. Cô gái bước tới, nở nụ cười rạng rỡ như hoa trong nắng. Chàng trai lắc đầu buồn bã “Anh xin lỗi! Anh cũng không ngờ em lại gặp anh sớm như vậy.” Cô gái ngoái lại, nhìn đoàn người ở phía sau, giọng nhẹ như không “Chúng ta đều giống nhau. Đều hy sinh vì người khác.” Cô ngừng lại một chút rồi cúi xuống nhìn chân mình. “Vậy là đủ rồi.” Hai bàn tay khẽ chạm nhau. Trời càng mưa nặng hạt........Hết ngoại truyện A Phong.........Đừng Quên Bỏ Ra Ít Giây Click Quảng Cáo Ủng Hộ Chúng TôiTruyện ma "Đỡ Đẻ Cho Ma" chap 1Truyện ma "Linh Nhi Ác Quỷ" Chap 1Truyện ma Việt Nam "Tang Trùng Tang" chap 1Truyện ma "Vong Hồn Trùng Tang" Chap 1 𝐏𝐡𝐚̂̀𝐧 𝐭𝐡𝐮̛́ 𝟐Bạn có thể xem lại chap 1 Tại ĐâyTôi còn nhớ như in, lúc ấy vào khoảng 3h sáng, tôi đang miên man ngủ thì bị đánh thức bởi tiếng mưa rơi lộp bộp trên mái tôn. Vài hạt mưa theo gió bay lất phất rơi vào mặt tôi. Cảm nhận được hơi lạnh, tôi choàng tỉnh giấc. Theo phản xạ, tôi với tay để đóng cánh cửa sổ rồi định chùm chăn ngủ tiếp. Thế nhưng khi tôi chưa kịp thực hiện ý định ấy thì đột nhiên bên ngoài có tia chớp lóe lên, rồi tiếng sét đánh ầm ầm giữa đêm. Trong giây phút chớp nhoáng ấy, tôi nhìn thấy cuối giường tôi có một người đang ngồi nhìn tôi chăm chú. Nhờ ánh đèn vàng vọt ngoài đường hắt vào, tôi thấy rõ người ấy khom chân, gương mặt kề lên trên đầu gối, cái đầu nghiêng sang một bên như thể đang ngắm nghía tôi. Đôi mắt sáng rực trong đêm hệt như mắt mèo. Nhiệt độ trong căn phòng dường như giảm đi vài độ. Tôi giật thót mình, hốt hoảng kêu ré lên một tiếng rồi nhoài người sang bên cạnh để bật ngọn đèn bàn. Toàn thân bắt đầu run như cầy sấy. Ánh sáng màu vàng ấm áp vừa soi tỏ căn phòng, thì cũng là lúc bóng người cũng đột nhiên biến mất. Tôi dụi mắt nhìn quanh, chẳng lẽ tôi nhìn nhầm, hay vẫn còn mơ ngủ? Tiếng bà tôi từ bên trong vọng ra “Sao thế? Sao thế Linh ơi?” Tôi lắp ba lắp trả lời “Không… không có gì đâu bà ạ. Cháu nằm mơ thôi.” Bà nội im lặng không nói gì nữa. Tôi nằm xuống, hai chân co quắp không dám duỗi thẳng xuống cuối giường. Lúc này tôi rất muốn vùng dậy khỏi chăn để chạy sang ngủ với bà nội, nhưng lại sợ bà hỏi nên tôi cố kìm nỗi sợ hãi của mình xuống. Trong đầu hiện lên hàng loạt câu hỏi “Người ấy là ai? Chẳng lẽ mình nhìn nhầm? Nhưng rõ ràng mình thấy rõ có người ngồi hẳn trên giường mình cơ mà. Làm sao mà có thể nhầm được nhỉ?” Tôi khẽ lắc đầu phủ nhận “Không! Không đúng! Trước khi đi ngủ mình đã đóng chặt cửa rồi cơ mà. Làm sao có ai vào đây được!! Nếu có thì phải có tiếng động chứ…Hay là… hay là có ma….” Trong đầu tôi bỗng nhiên vang lên lời dặn dò của bà nội. Không được để dép hướng lên giường, không được mở cửa sổ và càng không được thò chân ra khỏi chăn. Cảm giác rờn rợn trong lòng tôi lại trỗi dậy, khi nhận ra một điều rằng, trong căn nhà này có thứ gì đó vẫn đang tồn tại song song với chúng tôi. Chỉ cần một phút bất cẩn, tôi không biết mình sẽ phải đối diện với những gì. Nằm thao thức một lúc, cơn buồn ngủ kéo đến khiến cho hai mắt tôi nặng trĩu. Tôi ngủ thiếp đi rồi lại rơi vào một cơn mộng mị lạ kỳ. Trong giấc mơ, tôi thấy mình đứng ở một ngôi làng nho nhỏ vắng tanh vắng ngắt. Trời mưa rả rích hệt như ở thị trấn quê tôi. Tôi luống cuống chạy vào trú mưa dưới một căn nhà có mái hiên cũ kỹ. Phải đến lúc này tôi mới có dịp nhìn kỹ xung quanh. Con đường nho nhỏ chạy thẳng xuống cuối làng, hai bên là những ngôi nhà mọc lên san sát. Trước cửa mỗi nhà đều dán câu đối đỏ mừng năm mới. Có vài cánh cửa còn treo chữ Phúc lộn ngược gọi là Phúc đáo, một vài nhà khác treo bức tranh vẽ một vị quan mặc áo đỏ. Nơi này quá lạ lẫm, quang cảnh chung quanh khiến tôi ngờ ngợ rằng nơi này nhất định không phải ở Việt Nam. Đang mải mê suy nghĩ, bỗng nhiên bầu trời tối sụp xuống. Tôi giật mình kinh ngạc, khẽ lẩm bẩm một mình “Quái lạ! Sao ở đây trời mau tối thế?” Khi tôi đang không biết phải làm gì, thì có vài cánh cửa ở mấy ngôi nhà đối diện đồng loạt mở ra. Có vài bóng người kéo chiếc đèn lồng treo trước cửa xuống để thắp nến, sau đó lại treo lên. Ánh sáng tù mù từ trước đèn lồng gần như chẳng soi sáng được gì. Thế nhưng, có người xuất hiện vẫn hơn là khung cảnh hoang vắng, không một bóng người như lúc nãy. Nghĩ thế nên tôi vội vàng chạy ra khỏi mái hiên, tới gần một người dáng thấp bé đang cặm cụi treo đèn lồng. Trời vẫn mưa to dữ dội. Khi tôi đến được nơi thì người ấy đã lúi húi bước vào bên trong rồi định đóng cửa. Tôi vội vã kêu lên “Từ từ đã cô gì ơi!!” Nghe thấy tiếng gọi, người kia dừng lại nhưng gương mặt vẫn không quay lại. Trong cảnh tranh tối tranh sáng, tôi chỉ nhìn thấy vạt áo màu nâu nhạt của người ấy thấm ướt vì nước mưa. Tôi vội nói ngay “Cho…cho cháu hỏi. Đây là đâu thế ạ? Cháu muốn ra khỏi làng thì đi lối nào.” Người kia nín thinh, không trả lời, cũng chẳng quay đầu lại. Tôi hơi lúng túng vì không biết phải làm gì trong trường hợp ấy. Tôi khẽ năn nỉ “Cô ơi! Cô giúp cháu với ạ! Trời tối rồi! Cháu phải về nhà.” Người kia vẫn đứng im như tượng. Bàn tay trắng toát hệt như bôi vôi của người ấy vẫn đặt lên trên cánh cửa gỗ mòn vẹt. Tôi bắt đầu mất kiên nhẫn “Cô quay lại đi ạ. Cô giúp cháu với!” Lần này thì người kia có phản ứng. Cô ta chầm chậm ngoái đầu lại. Giây phút nhìn cận mặt cô ta, hồn vía tôi như bay lên mây. Gương mặt của người ấy không còn có thể nhận dạng được nữa. Toàn mặt bê bết máu và giòi bọ. Dường như có kẻ nào đó đã lấy dao băm vằm mặt của cô gái ấy ra. Trên gương mặt lúc này máu, thịt, mỡ, xương và lớp sụn ở mũi trộn lẫn với nhau giống hệt như thau tiết canh lợn mà ngày trước bố tôi vẫn thường pha. Từng con giòi trôi theo dòng máu chảy trên mặt cô ta, rồi men theo xuống cổ. Tôi giật mình hét toáng lên một tiếng, rồi ngã sõng soài xuống con đường ngập nước mưa. Cô gái kia hướng mặt về tôi một lúc rồi nhẹ nhàng đóng sầm cánh cửa lại, mặc cho tôi đang ú ớ sợ đến ngây dại. Trời càng lúc càng mưa to. Đúng lúc này tôi phát hiện ra một điều. Nơi này hoàn toàn im lìm, ngay cả một tiếng chó sủa cũng không có. Vừa nãy tôi hét lớn như thế, đáng lẽ đám chó trông nhà phải sủa mới phải. Đằng này… một tiếng động cũng không, hệt như là một ngôi làng chết chóc. Tôi vùng dậy đập cửa hết nhà này đến nhà khác nhưng hoàn toàn không thấy ai trả lời. Tâm trạng tôi lúc này tuyệt vọng đến cùng cực, nước mắt tôi nhòe đi bởi cơn mưa tầm tã. Đúng lúc đó, tôi thấy có một người con trai đi tới. Người ấy cất giọng u ám hỏi tôi “Nguyễn Thị Linh… sinh ngày mồng bảy tháng bảy, đinh mão niên phải không?” Tôi hơi giật mình nhưng vẫn gật đầu. Người ấy quay lưng lại rồi nói với tôi “Đi theo tôi! Ở đây cách xa nhà lắm rồi!” Tôi đờ đẫn nhìn theo bóng lưng của người ấy, trong lòng cảm thấy vô cùng bất an. Thế nhưng, cuối cùng tôi vẫn quyết định chạy theo. Có vẻ như người con trai kia biết tôi, nhưng tôi nghĩ mãi không ra giọng nói ấy, bóng lưng ấy của ai, chỉ biết một điều rằng, chắc chắn người này tôi đã từng nhìn thấy ở đâu đó. Cơn mưa vừa nãy dường như đã chuyển thành một cơn bão. Sấm sét đánh đì đùng trên cao nhưng người kia vẫn đi không hề dừng lại. Tôi cắn răng chạy theo, mặc kệ cho từng cơn gió thốc vào mặt. Dù có thế nào, tôi cũng phải rời khỏi ngôi làng quái dị nay, vì tôi ngửi được trong không khí có mùi tử khí phảng phất đâu đây. Người ấy đi là là đằng trước, tôi chạy hộc tốc ở phía sau, tiếng bước chân của tôi đạp xuống nước tạo thành những âm thanh lõm bõm. Càng đi, tôi càng cảm thấy kỳ lạ. Người con trai kia lúc nào cũng bình thản cầm ô đi phía trước. Có nhiều đoạn đường rất trơn, lại có ổ gà nhưng người ấy cứ đi êm như ru. Tôi căng mắt nhìn xuống phần chân người ấy thì chỉ thấy một lớp sương mù phảng phất che khuất tầm nhìn. Đi được một lúc, tôi đã thấm mệt vì lạnh và đói, tôi thều thào hỏi “Anh…à… bạn gì ơi! Dừng chân một chút được không? Mệt quá...” Người kia ngừng lại một lúc rồi khẽ nói “Không được! Đường về vẫn còn xa lắm.” Tôi sợ rằng mình sẽ chết trước khi về được đến nhà, nhưng nghĩ đến cảnh bà nội đang chờ tôi lại cắn răng đi tiếp. Người ấy dẫn tôi đi qua một cánh rừng âm u, tịch mịch. Tôi bặm mười đầu ngón chân xuống đất rồi bám thật chắc vào mấy cành cây chìa ra bên đường. Tôi thầm nhẩm tính trong đầu, con đường này dễ phải dốc hơn 30 độ. Cảnh tượng này làm tôi nhớ đến những con đường mà những người cửu vạn ở biên giới phải men theo để tránh đội tuần tra biên phòng. Trên lưng đoàn cửu vạn ấy lúc nào cũng hàng chục cân hàng, phần lớn đều là hàng lậu, đương nhiên chúng chẳng có thuế, cũng không có bảo hiểm. Nếu như gặp phải thổ phỉ hay bị biên phòng bắt gặp, họ sẽ quẳng gánh hàng lại rồi bỏ chạy. Dẫu sao, mạng người vẫn là trên hết. Hai chân tôi sưng phồng đau đớn, nhưng tôi không dám kêu ca, cũng không dám dừng chân nghỉ ngơi lấy một phút nào. Trong lòng tôi chỉ sợ, nếu không đuổi theo kịp người kia, tôi sẽ bị bỏ lại ở giữa rừng này. Phải mất hơn một tiếng sau, chúng tôi mới thoát khỏi cánh rừng rồi bắt vào một con đường quốc lộ. Tôi nhìn thấy một cột mốc lộ giới ghi Phó Bảng – 10 km. Tôi điếng người thốt lên kinh hãi “Cửa khẩu Phó Bảng? Sao mình lại đi xa thế này?” Người con trai nghe tiếng tôi thì dừng lại, đôi chân của anh ta vẫn lẫn trong màn sương dày đặc. Tôi muốn nhìn rõ gương mặt người ta đặng nói lời cảm ơn, thế nhưng khi tôi chưa kịp mở lời thì người ấy đã thì thầm “Đi về phía trước đi! Ở đấy sẽ gặp một đám ma khô.” Tôi ngây người ra không hiểu, vội quay sang nhìn cảnh vật xung quanh, cho đến khi quay lại thì người ấy đã biến mất từ lúc nào. Tôi sững sờ đến mức không tin nổi vào mắt mình. Phía trước và phía sau tôi là con đường lớn chạy dài tít tắp, hai bên là cánh đồng trồng ngô nhưng giờ đã trống không. Ở giữa nơi đồng không mông quạnh thế này, người kia trốn đi đâu được? Tôi hoang mang tìm kiếm, nhưng chẳng thấy gì. Rõ ràng người con trai vừa mới nói chuyện với tôi cách đây vài giây trước, giờ cứ như thể đã tan biến vào hư vô. Da gà, gai ốc của tôi nổi khắp người. Chẳng lẽ tôi vừa gặp ma? Nghĩ thì nghĩ vậy, nhưng tôi vẫn cố gắng để đi tiếp. Nhà tôi cách đây mấy trăm cây số, nếu không về sớm thì có khi tôi sẽ chết ở dọc đường. Trời vẫn âm u hệt như lúc tôi gặp người con gái bị băm vằm nát mặt kia. Đi suốt cả mấy tiếng đồng hồ, nhưng mà không hiểu sao trời vẫn chưa sáng. Càng lúc tôi càng cảm thấy lo lắng đến cực độ, con đường này vắng tanh không có xe cộ qua lại, cũng chẳng thấy đám ma khô như người con trai kia nói. Tôi đi mãi, đi mãi, hết cả con đường lớn, vòng vào một con đường mòn trên núi vẫn không gặp một người nào. Đúng lúc tôi đang cảm thấy nản lòng, muốn gục xuống đường thì đột nhiên tai tôi nghe văng vẳng lại tiếng khèn. Có khi nào tiếng khèn ở đám ma vọng tới? Thấy có dấu hiệu của người sống, tôi mừng lắm, vội vã chạy về hướng phát ra tiếng động. Chỉ một lúc sau, tôi nhìn thấy một căn nhà nằm cheo leo trên núi. Bên ngoài thấp thoáng vài người phụ nữ đang tất bật nấu nướng, một vài người đàn ông khác đang túm tụm nói chuyện. Mừng hơn bắt được vàng, tôi nhào tới để xin họ ngụm nước. Mặc dù hơi ngạc nhiên, cũng chẳng hiểu tôi nói gì, nhưng người phụ nữ kia vẫn mỉm cười gật đầu đưa cho tôi một bát nước. Tôi tu ừng ực đến mức quên cả cảm ơn người ấy. Để tránh làm phiền gia chủ, tôi nép vào một góc để nghỉ ngơi, cũng vừa là để quan sát xung quanh. Nhìn trang phục của mọi người, tôi nhận ra đây là bản làng của người H’Mông. Tục lệ làm đám ma khô của người Mông vốn chẳng xa lạ gì với tôi. Họ thường sống quần tụ trên lưng chừng núi cao, khi một nhà nào đó trong bản có việc là cả làng sẽ cùng chung tay giúp việc. Nhìn chiếc mẹt nhỏ đựng đầy mèn mén thức ăn chính của người Mông làm từ ngô xay, để lẫn cùng với thịt luộc, bánh gạo tẻ và một tấm áo cũ của người chết treo trên cành tre cắm ở giữa mâm, tôi đoán rằng người chết trong nhà này là một đứa bé trai còn rất nhỏ tuổi. Người Mông tổ chức đám ma khô sau khi người thân trong gia đình đã chết được một năm. Tôi nghe người ta nói, mục đích của đám ma này là để hỏi xem người chết đã vui vẻ lên đường về với tổ tiên hay chưa, hay vẫn còn vương vấn chốn trần gian này. Nhà nào có người chết đều phải làm như vậy. Những người trong làng kéo đến uống rượu, ăn thịt ngày càng nhiều. Tiếng khèn vang lên dìu dặt, âm u càng làm cho tôi nhớ đến người con trai hôm qua. Rõ ràng người này tôi đã từng gặp ở đâu, nhưng nhất thời chưa thể nhớ nổi. Khi tôi còn đang miên man suy nghĩ thì thấy ông thầy cúng kính cẩn tung hai nửa dóng tre để hỏi ý người chết. Hai nửa dóng tre được hất lên trên không trung rồi rơi xuống đất. Cả hai nửa đều giống nhau, người chết vẫn chưa muốn rời khỏi đây. Gương mặt ông thầy cúng hơi ngạc nhiên, ông lại lầm rầm cúng rồi tung thêm một lần nữa. Vẫn giống nhau y đúc. Đám đông xúm lại xem xét rồi chỉ trỏ, dường như họ chưa từng thấy chuyện quái dị như thế này trước đây. Tôi cũng tò mò dõi theo. Mồ hôi trên trán ông thầy cúng đã lăn dài, ông ta tung thêm vài lần nữa nhưng kết quả chẳng thay đổi. Ngay cả một đứa con gái chẳng hiểu gì như tôi cũng cảm thấy kỳ quái. Xác suất để hai nửa dóng tre kia rơi mặt sấp mặt ngửa là 5050, làm sao có thể lạ lùng như thế được. Một ai đó thốt lên bằng giọng Kinh lơ lớ “Con ma nhà A Tú chưa muốn đi rồi! Mấy năm rồi vẫn chưa đi! Sắp thành ma của bản rồi.” Đám đông nhốn nháo nhìn nhau. Đột nhiên tôi phát hiện trên góc nhà có một người ngồi vắt vẻo phía trên, mặt dửng dưng nhìn xuống dưới. Ban đầu tôi không để tâm lắm, định xoay người bỏ đi, bất chợt tôi giật mình phát hiện ra một điều khiến bản thân mình choáng váng. Người con trai ấy, có một nốt ruồi ở giữa mũi. Tôi hoảng hồn quay lại, nhưng chẳng còn thấy gì nữa. Thế rồi, tôi choàng tỉnh dậy. ………………………………………………….Trong nhà tôi lúc này có tiếng người nói ồn ào. Tôi nghe thấy chú Long gọi điện thoại cho ai đó, tiếng bà sụt sịt khóc, rồi cả mùi nhang khói len lỏi vào trong phòng. Tôi cố gắng đứng dậy nhưng toàn thân đau nhức, miệng khẽ gọi bà “Bà ơi! Bà!” Nghe tiếng tôi gọi, cả bà nội và chú Long đều lật đật chạy vào. Vừa nhìn thấy tôi, bà vội vàng hỏi luôn “Trời ơi! Cháu tôi. Sao giờ này mày mới tỉnh? Bà với chú mày cứ tưởng là….” Tôi ngơ ngác nhìn hai người đối diện rồi khẽ hỏi “Ơ… tưởng gì hả bà? Cháu mới ngủ dậy thôi mà, chứ có bị làm sao đâu.” Chú Long ngẩn người nhìn tôi “Bốn giờ chiều rồi! Gọi thế nào cũng không đánh thức được mày dậy. Chú còn sợ… mày bị hôn mê ấy.” Tôi giật mình nhìn đồng hồ. Rõ ràng tôi bị đánh thức giữa đêm qua vì cơn mưa bất chợt, sau đó là bóng người mắt sáng rực ngồi thu lu ở dưới giường. Lúc tôi ngủ tiếp, trời vẫn còn chưa sáng hẳn, sao giờ đã là bốn giờ chiều? Tôi ngẩn ngơ nhìn bà rồi nhìn chú. Thấy tôi không sao, chú Long lại phải đi ngay. Chú lúc nào cũng vội vội vàng vàng như thế. Khi chỉ còn hai bà cháu ở lại trong phòng, bà mới lân la hỏi dò “Đêm qua mày có làm theo đúng lời bà dặn không? Có đóng cửa cẩn thận không đấy?” Tôi gật đầu xác nhận “Cháu có làm theo ạ.” “Thế mày có mơ thấy gì không?” Bà lại hỏi. Lần này thì tôi tiếp tục nói dối “Cháu chẳng mơ thấy gì hết cả.” Gương mặt bà thoáng nghi ngờ, nhưng cũng không hỏi tôi thêm nữa. Tôi thở phào nhẹ nhõm, vì từ trước đến giờ tôi vốn dĩ nói dối rất tệ. Tôi trở dậy đánh răng rửa mặt rồi đi xuống dưới bếp để nấu nướng. Bà tôi năm nay đã cao tuổi rồi, ngoại trừ thỉnh thoảng bà quét dọn nhà để vận động đôi chút, thì mọi việc tôi chẳng để bà phải động tay. Lúc tôi đang lúi húi nhặt rau sau bếp thì cái Châu bạn thân của tôi đi tới. Từ trước đến giờ, chỉ có nó mới dám đến căn nhà quỷ trạch của gia đình tôi, mà không hề sợ hãi. Bố nó vốn làm chiến sĩ biên phòng, cho nên ngay từ khi còn bé nó đã quen với việc sống một mình một nhà để bố thường xuyên đi công tác. Những năm tháng tuổi thơ ấy đã tôi luyện con bé trở nên mạnh mẽ và gan dạ. Hễ thấy ai nói gì xì xầm về vụ án bố mẹ tôi cùng số vàng mất tăm mất tích, nó đều gạt đi, không muốn người đời bàn tán thêm về nỗi buồn của tôi nữa. Chính vì thế mà tôi quý nó lắm. Mấy hôm nay tôi quyết định nghỉ học, phần vì muốn ổn định chỗ ở tại căn nhà cũ, phần vì không muốn đám học sinh trong trường có dịp tò mò về trận hỏa hoạn hôm trước. Có lẽ cái Châu lo lắng cho tôi nên tìm đến tận nơi để hỏi thăm. Vừa trông thấy tôi, nó đã mỉm cười rạng rỡ. Hai đứa hàn huyên một lúc, tôi nói chuyện với nó về giấc mơ dài đằng đẵng đêm qua. Chỉ duy có chi tiết tôi nhìn thấy người con trai trong mơ có nốt ruồi hệt như thằng bé năm nào thì tôi giấu biệt đi, không hề kể lại. Ban đầu tôi cứ nghĩ rằng mình lo lắng, và mệt mỏi nên mới sinh ra mộng mị như thế. Nào ngờ vừa nghe xong, cái Châu kinh hãi nhìn tôi rồi thì thầm “Mày có biết mơ như kiểu mày người ta gọi là gì không?” Tôi ngạc nhiên hỏi lại “Là gì? Chỉ là giấc mơ thôi chứ là gì?” Cái Châu lắc đầu đáp lại “Không! Là duyên âm đấy! Mày có duyên âm đi theo rồi.” Lần đầu tiên trong đời tôi nghe đến thứ lạ lùng như thế. Tôi trả lời nhát gừng “Tao có ai đâu mà duyên mới chẳng âm. Mày đừng có nghĩ linh tinh.” Cái Châu vẫn khăng khăng “Không! Nhất định mày có. Duyên âm còn đi theo mày như thế chứng tỏ không phải ngày một ngày hai đâu. Tao… tao nghe nói, có người còn bị bắt đi nữa cơ.” Lần này thì tôi có phần kinh ngạc, tôi hỏi nó “Bắt đi là như thế nào?” Con bé phán một câu xanh rờn“Là chết! Chết theo người ấy.” Rổ rau tuột khỏi tay tôi rơi xuống, đống rau sắng bên trong vương vãi trên nền đất. Tôi không trả lời lúi húi nhặt rau trở lại. Cái Châu biết rằng tôi vẫn chưa tin, nó lại hỏi “Mày có muốn kiểm tra xem có thực là có duyên âm đi theo mình không?” Nghe thấy thế tôi gật đầu ngay “Kiểm tra bằng cách nào?” Cái Châu khẽ thì thầm vào tai tôi. Tôi cảm thấy cách làm này có phần hơi quái dị nhưng cũng không quá khó để thực hiện. Đêm hôm ấy, tôi quyết định làm theo. Cho tới mãi về sau này, tôi vẫn không hề xác định được rằng, việc tôi làm đêm ấy là ngu ngốc hay đã cứu tôi một mạng. Chỉ biết rằng, cuộc sống của tôi khi ấy đã không còn bình thường như trước. 𝗡𝗴𝘂̉ 𝗖𝘂̀𝗻𝗴 𝗡𝗴𝘂̛𝗼̛̀𝗶 𝗖𝗵𝗲̂́𝘁 - 𝗡𝗴𝗼𝗮̣𝗶 𝗧𝗿𝘂𝘆𝗲̣̂𝗻 𝗣𝗵𝗮̂̀𝗻 3. 𝗫𝘂𝗮̂𝗻 𝗛𝗮̣ 𝗧𝗵𝘂 Đ𝗼̂𝗻𝗴 - 𝗳𝘂𝗹𝗹 Chap CuốiXem Lại NGoại Truyện 2 Tại Đây...............................................Một mùa đông mới lại về tới ngôi làng nho nhỏ nằm trên núi. Mùa đông là mùa khắc nghiệt nhất trong năm, cũng là nỗi ám ảnh lớn nhất đối với người dân ở đây. Gió lạnh thổi thốc vào bên trong từng ngôi nhà tranh vách đất, cây cỏ xơ xác gục xuống nền đất xám xịt. Người trong làng cùng với bầy dê chẳng có gì ăn ngoài mấy bắp ngô treo khô trước cửa nhà. Thời điểm ấy, ai cũng đói, ai cũng nghèo. Thế nhưng gia đình nghèo nhất trong thôn khi ấy vẫn là nhà ông bà Tiều. Mới chớm đông mà trời đã lạnh, lão Tiều lại nhận được tin vợ lại có thai thêm lần nữa. Bốn lần đều sinh ra con gái, lần thứ năm này vợ mang thai, lão Tiều cũng không hy vọng gì nhiều. Mỗi lần vợ lên cơn nghén, lão đều chửi rủa rằng vợ lão là một kẻ vô tích sự, chỉ biết ăn xong rồi chửa, chửa rồi lại ăn. Có lần lão còn toan đánh vợ, may mà có người hàng xóm đi ngang qua thấy vậy nên chạy tới can ngăn. Lại nói về bốn chị em Xuân Hạ Thu Đông, kể từ lúc mẹ mang thai đứa em thứ năm trong gia đình, chẳng còn ai thấy người đàn bà mặt đỏ ngồi trên cây hòe nữa. Có nhiều đêm trăng sáng vằng vặc, con bé Hạ rủ Xuân ra ngoài cây hòe để nghe ngóng, nhưng cuối cùng hai đứa lại đành lủi thủi đi về, chẳng trông thấy gì. Xuân cho rằng người đàn bà kia đã đi mất rồi, nhưng Hạ lại nghĩ mọi chuyện không đơn giản như thế. Hai đứa muốn đi xem bói, ngặt nỗi không có tiền. Cả hai nghe ngóng được ở thôn bên cạnh có một bà thầy bói vừa mù vừa tàn tật có thể xem bói rất hay, nên định bụng khi nào để dành được tiền sẽ đến. May thay, cuối tuần ấy Xuân gánh củi cho nhà hàng xóm được trả công năm ngàn đồng, thế là hai đứa tấp tểnh đi ngay. Nhà bà thầy bói mù ở sát bìa rừng, vừa đến nơi đã thấy có rất đông người đến xem bói. Thậm chí còn có cả một đôi vợ chồng đi xe hơi đến đứng chờ đợi ở bên ngoài. Bà thầy bói mắt mù mở cửa bước ra, bà khẽ khịt mũi rồi phẩy tay đuổi mấy người kia về. Giọng bà khò khè “Đi về đi! Hôm nay tao không xem.” Tất cả mọi người ngẩn ra nhìn nhau, chưa kịp nói gì thì bà thầy bói đã toan quay lưng rời đi. Con bé Xuân và Hạ nhìn nhau lòng đầy thất vọng. Đúng lúc ấy, bà thầy bói quay mặt về phía hai đứa nhỏ, rồi khua tay vào khoảng không trước mặt “Hai con kia nhà có người chửa phải không? Đi vào! Đi vào đây!” Mọi cặp mắt đều đổ dồn về hai đứa nhỏ. Chúng líu ríu dẫn nhau vào trong gian nhà nho nhỏ. Bên trong nhà gần như chẳng có gì, chỉ bày biện một chiếc bàn thờ với bát nhang còn đang bốc khói nghi ngút. Xuân cảm thấy sờ sợ, nhưng gương mặt Hạ thì lạnh tanh. Nó đặt năm ngàn tiền lễ lên trên cái đĩa nhỏ rồi bắt đầu xưng tên tuổi và địa chỉ. Bà lão mù có vẻ chẳng quan tâm tới những thứ đó lắm, bà ngắt lời cái Hạ “Nhà hai đứa có người đang chửa phải không?” Cái Xuân rụt rè gật đầu“Vâng... vâng ạ!” Bà lão lại hỏi “Trong nhà có gì lạ phải không? Ví dụ như mùi gì đó thoang thoảng?” Cả hai nhìn nhau, cuối cùng cái Hạ trả lời “Không... không có mùi gì lạ bà ạ. Mà giả như có mùi lạ thì khéo cũng bị mùi của phân dê át hết rồi. Thế nhưng chính mắt chị em cháu thấy trong nhà quả thực có chuyện này rất lạ. Ấy là bọn cháu thường xuyên thấy một người đàn bà mặt đỏ, mặt đen ngồi vắt vẻo trên cây. Người này thỉnh thoảng còn đứng ở bên cửa sổ phòng bọn cháu nữa. Thế nên là chúng cháu mới tìm đến bà...” Bà lão mù gật đầu“Cái cây mà người đó ngồi hẳn phải là cây có nhiều âm khí. Có thể là cây tre, cây hoa ngọc lan, hoặc cây hòe. Bên cạnh cây phải có một vật thuần âm như giếng nước hoặc thứ gì đó.. có phải không?” Cái Xuân điếng người, gật đầu lia lịa “Cháu... cháu thấy bà ấy ngồi trên cây hòe. Đúng là cây hòe nhà cháu trồng cạnh giếng nước. Mà cây này có lẽ từ lâu lắm rồi, từ lúc cháu lớn lên đã có.” Bà lão mù lại đột ngột đổi chủ đề “Mẹ chúng mày mới chửa thôi phải không?” Cái Hạ xác nhận “Vừa mới được hơn 2 tháng.” “ Có thấy bà mẹ nói chuyện với người trên cây bao giờ không?” “Có! Cháu thấy một lần” Xuân đáp lại. Bà lão mù không nói thêm gì nữa, bà lầm rầm khấn vái một mình rồi gieo quẻ leng keng. Trong căn nhà tranh tối tranh sáng, hai đứa nhỏ ngây người nhìn bà lão quái dị. Một lúc sau, bà lão mù hướng mặt về phía chúng, tròng mắt đục ngầu đảo liên tục khiến cả hai đứa càng thêm phần hoảng sợ. Giọng bà lão càng trở nên khò khè “Mẹ hai đứa mày là bát tự thuần âm. Mảnh đất của gia đình đang ở lại là đất nghịch. Người ở trên mảnh đất này có muốn có con trai cũng khó, vì con trai vốn là dương khí. Đứa bé... đứa bé trong bụng mẹ mày... mười phần thì đến chín phần là trai. Chỉ có điều... chỉ có điều...” Hai chị em cùng hồi hộp“Điều gì hả bà?” Bà lão hạ thấp giọng thì thầm “Người mặt đỏ mặt đen ngồi trên cây kia là quỷ. Mẹ của hai đứa chúng mày cầu xin quỷ cho một đứa con. Điều ấy có nghĩa là quỷ gửi con vào bụng mẹ mày. Những đứa trẻ như thế này đều khó nuôi lắm, lại khắc nghịch với anh chị em trong nhà. Không chừng... không chừng chúng mày phải bán mạng cho nó. Vì mẹ mày đã gán để đổi chúng mày lấy một thằng con trai rồi. Cứ mỗi một vận hạn của nó sẽ có một đứa phải chết đi. Chết hết.. chết khi nào không còn một ai nữa. Khặc.. khặc... khặc...”Càng nói bà lão mù càng khoái chí. Những lời nói cuối cùng của bà chìm trong tiếng cười khằng khặc như điểm tô thêm cho bầu trời cuối năm âm u đến ảm đạm. Cái Xuân sợ quá, vội vàng kéo đứa em chạy về. Hai đứa chạy ra khỏi nhà rồi mà vẫn còn nghe thấy tiếng của bà lão mù vọng ra “Quỷ gửi con... quỷ gửi con.. Chúng mày nhớ lấy... nhớ lấy... Không quá mùa đông năm sau, sẽ có đứa đầu tiên bán mạng... Nhớ lấy.... nhớ lấy..”Tiếng cười xen lẫn với tiếng hét của bà lão mù khiến cho cái Xuân va vào đôi vợ chồng sang trọng đi xe hơi vẫn đang kiên nhẫn chờ ngoài cửa. Con bé luống cuống đứng dậy rồi bỏ chạy, để lại hai người kia nhìn nhau chẳng hiểu gì. Về đến nhà, cả hai cố gắng tỏ ra bình thường, coi như không có chuyện gì xảy ra. Xuân và Hạ đã thống nhất với nhau từ trước rằng Chuyện hôm nay tuyệt nhiên không được nói cho ai biết, kể cả bố mẹ đẻ của mình. Hai đứa thấp thỏm chờ ngày em trai ra đời, chúng không dám tin rằng trên đời lại có chuyện quỷ gửi con, càng không thể chấp nhận nổi việc bản thân mình sẽ phải thế mạng cho đứa bé. Có lẽ trong lòng có sẵn chấp niệm đó, chúng chẳng thể nào vui mừng chào đón một đứa em mới sắp sửa chào đời. .................................Thời gian thấm thoát trôi qua, chẳng mấy chốc cũng đến ngày bà Tiều trở dạ. Trong căn nhà chất đầy dây bắp ngô vàng rực, bà đau đớn vật vã liên hồi. Cái Xuân, cái Hạ chạy ra chạy vào. Chúng vừa chạy vừa nhìn ra ngoài cửa sổ, trong lòng thấp thỏm không biết có trông thấy người đàn bà đứng ở cửa sổ nhìn chòng chọc vào như lần trước nữa không. Chẳng biết vì nguyên do gì mà đứa trẻ này lại sinh dễ hơn bình thường. Chưa đầy hai tiếng đồng hồ bà Tiều đã sinh ra một đứa bé đỏ hỏn. Bà đỡ vui mừng gọi lớn “Con trai! Con trai rồi.” Lão Tiều đang thờ ơ uống rượu bên ngoài, nghe thấy thế sững sờ đến nỗi đánh rơi chai rượu trong tay rồi chạy đến trước cửa phòng đẻ. Bà đỡ ẵm đứa bé trai ra, tiếng khóc của thằng bé rất yếu, nhưng lão Tiều mừng rơi nước mắt. Cả hai chị em Xuân và Hạ nhìn nhau. Trời bắt đầu đổ mưa, ở ngoài cửa sổ bỗng dưng xuất hiện một gương mặt nửa đỏ nửa đen ngó vào. Cùng lúc đó tiếng quạ réo liên hồi, khiến cho khung cảnh càng thêm phần rợn ngợp. ..........................................................Lại một năm nữa trôi qua, mùa đông lại đến. Từ ngày thằng bé Quan ra đời, lão Tiều trở nên vui vẻ hẳn. Lão cưng chiều thằng con trai hết mực, mấy đứa chị phải thay nhau chăm sóc em. Ngộ nhỡ mà để cho em bị lạnh hay bị ho vài tiếng thì sẽ ốm đòn với bố mẹ. Ngẫm ra cũng thật kì quặc, trẻ con hơn một tuổi đã bắt đầu lẫm chẫm tập đi, nhỏ hơn nữa cũng đã có thể nhận biết được người quen, người lạ. Ấy thế mà con trai nhà lão Tiều cả ngày chỉ ngủ li bì, đêm tối cứ quay mặt vào tường rồi cười khành khạch. Người trong thôn bảo thằng bé này hệt như bị quỷ ám. Mỗi lần như thế lão Tiều lại đứng ra ngoài chửi đổng, thậm chí còn đánh nhau với người ta. Xuân, Hạ và Thu đều cảm thấy sợ đứa em trai của mình. Đỉnh điểm là có lần Thu bị trượt chân nên chảy máu, thằng bé kia đang ngủ ngửi thấy mùi máu nó đột ngột tỉnh giấc rồi nhìn vào chân Thu mà liếm mép. Xuân thấy vậy thì sợ quá, vội vàng giục cái Thu đi chỗ khác, đừng lại gần thằng quỷ này. Vào tiết đại hàn năm ấy, thằng Quan bị sốt li bì. Cả ngày nó chẳng ăn uống được gì, từ trong miệng ói ra toàn mật xanh mật vàng. Lão Tiều lo lắng lắm, toan đi mời thầy lang thì chợt nhớ ra lần trước mình mới gây sự với con trai của thầy lang xong. Thế là lại thôi. Có người mách cho lão mời thầy lang ở thôn bên, nhưng lão không có tiền. Cả nhà này vét hết mọi ngóc ngách chẳng có nổi vài chục nghìn. Lão tần ngần nhìn thằng bé nóng ran mà trong lòng sốt ruột. ............................Quá trưa hôm ấy, lão ra ngoài rồi hăm hở ra về. Vài tiếng đồng hồ sau, lão trở về bàn bạc với bà Tiều chuyện gì đó. Cuối ngày hôm ấy, lão mua cho con bé Đông rất nhiều kẹo mút rồi bế con bé đi ra ngoài. Xuân, Hạ và Thu cảm thấy không tin nổi vào tai mình. Từ trước đến giờ bố có bao giờ quan tâm gì tới con bé đâu, chẳng lẽ hôm nay mặt trời lại mọc ở đằng tây? Sẩm tối, lão Tiều trở về nhà mang theo hai con gà nướng thơm phức. Không thấy con bé Đông đâu, cái Xuân và cái Hạ mới chối quanh co, sau cùng cũng thú nhận rằng đã bán con bé cho một đôi vợ chồng giàu có. Tiền bán được là một chỉ vàng, người chồng kia còn cho thêm ít tiền để mua ít thịt. Cái Xuân và cái Hạ khóc lớn. Nó cầm cái đùi gà trên tay rồi ném thẳng đi. Bố nó đã đổi đứa em gái bé bỏng của nó để lấy 2 con gà quay rồi. Thấy thịt bị ném xuống đất bẩn, lão Tiều định nhảy vào đánh cái Xuân nhưng con bé chạy trốn được. Nó trốn trong ngôi chùa ở làng, sư thầy thương tình cho nó tá túc ít hôm rồi dẫn về tận nhà. Lúc này thằng Quan đã được uống thuốc nên khỏi bệnh. Nó nằm trong vòng tay bà Tiều, cầm nắm xôi nhỏ xíu nhìn cái Xuân rồi mỉm cười. Lúc đó con bé hiểu rằng, con bé Đông là người đầu tiên bị gán mạng cho thằng Quan. ............................ Vài tháng sau thằng Quan lại ốm. Lần này cái Xuân và cái Hạ cố gắng giữ con bé Thu bên mình. Mấy chị em đi đâu cũng có nhau, không rời nhau nửa bước. Bệnh tình của thằng Quan mãi không khỏi, mời thầy lang chữa trị cũng không có ích gì. Cô y sĩ ở trong trạm xá xã nói rằng bệnh của thằng bé phải đưa đến bệnh viện dưới huyện may ra mới có tiến triển. Vợ chồng lão Tiều tẩn ngẩn tần ngần, khẽ nhìn trong túi không còn nổi mấy đồng bạc. Tối hôm đó, lão lại dẫn cái Thu đi, mặc cho cái Xuân và cái Hạ khóc lên khóc xuống, van lạy cha mẹ mình đừng có bán em đi. Chừng vài tiếng sau, lão Tiều trở về nhà một mình, trên tay cầm hai chỉ vàng. Lần này thằng Quan được đưa tới bệnh viện dưới huyện bằng xe oto. Khi về, thằng bé cười khanh khách với bố mẹ như chưa có chuyện gì xảy ra. Nghe mẹ nó kể, lúc ở trên viện vô tình bế nó đi ngang qua nhà xác, thằng bé nhoài người vào đòi hít hà không khí trong đó một lúc mới chịu đi. Người trông nhà xác vừa về tới nơi thấy gia đình ba người nhà kia dẫn cả trẻ nhỏ vào khu vực để thi hài thì tá hỏa, vội vội vàng vàng đuổi đi. Trẻ con nhà bình thường, đi qua khu vực nặng âm khí như thế thường sẽ khóc nức khóc nở, thậm chí còn bị ốm mấy ngày. Ấy thế mà thằng bé này lại đòi vào bên trong để ngửi. Lúc vợ chồng nhà lão Tiều bồng con đi ra ngoài, thằng Quan xoay người lại nhìn vào trong nhà xác với vẻ mặt rất tiếc khẽ bập bẹ “Xác... Thơm.” Hai từ đầu tiên nó nói trong cuộc đời là như thế. ............................................... Lại nói về cái Xuân và cái Hạ, từ lúc hai đứa em bị bán đi, cả hai đứa không còn thiết gì nữa. Chúng chẳng ăn chẳng uống mấy ngày liền, bà Tiều có thoáng ngần ngại nhìn hai con, nhưng rồi tiếng khóc của thằng bé Quan lại làm bà quên ngay lập tức. Xuân hiểu rằng, trong nhà này, thằng bé kia chính là trời, cả bốn chị em mình gộp lại cũng không bằng một góc của nó. Trước sau gì cũng bị bán cho người khác, chi bằng cả hai trốn đi. Ít ra còn được làm chủ cuộc đời mình. Xuân chưa kịp đem chuyện này bàn với em gái thì con bé Hạ đã ngỏ ý rủ chị mình cùng bỏ đi. Hai đứa trẻ nhanh chóng thống nhất nơi chúng muốn tới, ấy chính là thủ đô Hà Nội. Cái Hạ nghe cô giáo bảo, Hà Nội rất đẹp. Nơi ấy có tháp rùa, có cầu Thê Húc, có quảng trường Ba Đình rực rỡ cờ hoa. Trong giấc mơ của nó, vùng đất thủ đô hiện lên như một mảng trời đầy màu sắc. Phải rồi! Cả hai chị em sẽ đến đó để kiếm tiền, kiếm thật nhiều tiền để rồi sau này sẽ không ai có thể coi thường được hai đứa nó nữa. Ngay cả cha mẹ chúng nó cũng không. Vấn đề lớn nhất bây giờ là làm thế nào để có tiền để rời đi. Cả hai đứa chẳng có đồng nào trong người cả. Không có tiền biết đi đâu về đâu? Xuân bàn với em, cả hai đứa cố gắng gánh củi cho người trong thôn để tiết kiệm tiền. Vào mùa măng sẽ theo lũ trẻ cùng làng đi vào rừng để hái măng kiếm sống. Thứ ấy có giá trị cao, nếu may mắn còn có thể kiếm được nhiều hơn là gánh củi. Thằng bé Quan chắc bây giờ chưa bị bệnh ngay, cho nên cả hai đứa không cần phải trốn đi vội. Cái Hạ nghe xong cho là phải, nó gật gù đồng ý. Kế hoạch của hai chị em chính thức bắt đầu kể từ giờ phút ấy. Hơn 2 tháng sau kể từ ngày cái Thu bị bán đi, đêm hôm ấy, tại nhà Xuân xảy ra chuyện quỷ dị. ...................................Vào một đêm trời rét, nằm trong chiếc giường ọp ẹp, Xuân nằm mơ thấy một giấc mơ rất lạ. Mà cũng không hẳn phải là mơ, vì lúc đó con bé còn đang chập chờn nửa mơ nửa tỉnh. Xuân nhìn thấy cánh cửa chính ở nhà khẽ mở ra, gió từ ngoài sân thổi thốc vào lạnh toát. Tiếng lão Tiều gáy như sấm vang rền ở gian bên cạnh. Dưới ánh trăng sáng vằng vặc, một bóng người nhỏ bé lặng lẽ tiến vào. Cái Xuân dụi mắt để nhìn cho kỹ hơn thì giật mình phát hiện người vừa bước vào ấy là cái Thu. Xuân ngạc nhiên khẽ gọi “Thu! Sao em lại về đây?” Con bé Thu ngơ ngác đứng ở cửa, nó nhìn sang gian phòng ngủ của bố mẹ một lúc. Sau đó mới tiến lại đứng ở cuối giường nơi Xuân và Hạ nằm. Con bé không nói gì cả, chỉ nhìn Xuân rồi khóc thôi. Xuân hoảng hồn ngồi bật dậy, khẽ đưa tay về phía trước “Sao đấy? Sao lại khóc? Chị... chị tưởng bố bán mày cho người ta rồi.” Cái Thu cứ đứng ở cuối giường mà khóc. Phải tới mấy phút sau, con bé mới thì thào “Chị Xuân ơi! Em bị người ta giết rồi. Xác em bị chôn ở dưới đồi chè mãi tận Thái Nguyên.” Giọng con bé lúc ấy nghe lạ lắm, cứ như truyền từ nơi âm ti địa ngục nào đó vọng về, khác hẳn với giọng nói véo von như ngày trước. Lần này thì Xuân hoảng sợ thực sự, nó lắp bắp hỏi em “Ai... ai giết? Làm sao lại thế?” Con bé Thu chưa kịp trả lời thì cánh cửa sổ sát giường đang đóng im ỉm bỗng dưng bật tung ra. Không khí trong phòng lạnh cóng, Xuân nghe rõ tiếng vù vù bên tai. Vừa thấy cửa sổ mở, Xuân giật mình quay ra nhìn. Trong giây phút ấy, con bé phát hiện người đàn bà mặt đỏ mặt đen đang đứng ở bên ngoài, nụ cười của bà ta ngoác rộng đến mang tai. Một giọng nói thì thào vang lên “Đi thôi! Đi thôi! Tới giờ rồi!” Thu cúi gằm mặt chạy vụt ra ngoài. Xuân gào lên để giữ em lại nhưng không kịp. Con bé nhào tới bệ cửa sổ thì thấy Thu lẽo đẽo đi theo người đàn bà quái dị vừa nãy. Cả hai đi ra tới gốc cây hòe thì biến mất. Tiếng đạp xe lạch cạch của mấy người đàn bà đi chợ ban đêm từ ngoài đường làng vọng lại, báo hiệu cho Xuân biết lúc ấy là khoảng 3 giờ sáng. Sáng hôm sau con bé đem chuyện này kể cho cái Hạ nghe. Cả hai đều khẳng định rằng cái Thu đã bị con quỷ mặt đỏ mặt đen sống ngay trong ngôi nhà này lấy mạng. Cả hai đứa xem xét cây hoa hòe một hồi lâu nhưng cũng chẳng thu được gì đáng giá. Cuối cùng đành tự chít khăn tang em mình, nhưng cũng chỉ lén lút chít khăn vào ban đêm lúc đi ngủ. Nếu để bố mẹ chúng biết được, chắc chắn hai đứa sẽ bị đánh đòn. ................................ Từ sau cái ngày lão Tiều bán con gái cho người lạ, cả thôn không ai còn muốn qua lại với gia đình lão nữa. Đám trẻ con trong làng nhìn thấy Xuân và Hạ đều chạy theo để trêu đùa, chúng bảo rằng bọn nó không sớm thì muộn cũng bị bán vào nhà thổ. Kỹ viện hay nhà thổ là gì, bọn trẻ con trong làng chưa chắc đã hiểu hết, chỉ là chúng xem phim trên truyền hình thì biết vậy thôi. Ấy vậy mà điều đó lại khiến hai chị em Xuân và Hạ lo lắng đến mất ăn mất ngủ. Tiền chúng kiếm được cũng kha khá, cả hai quyết định sẽ lên đường vào hôm hội làng. Lúc ấy, chắc chắn bố mẹ sẽ đưa thằng Quan đi chơi hội. Đúng như dự đoán của cả hai, sáng sớm ngày hôm ấy ba người kia đi chơi từ sớm. Cái Xuân và cái Hạ chuẩn bị một túi quần áo, mấy bát gạo, một ít ngô đổ vào tay nải rồi vội vàng rời đi. Lúc vừa bước ra khỏi cửa, cái Hạ nảy ra một ý. Nó lén vào trong gian phòng ngủ của bố mẹ, cậy tủ để tìm thêm ít tiền mang đi dọc đường. Tiền mặt trong tủ thì không có, chỉ còn một cái nhẫn vàng từ lần bán cái Thu dạo trước mẹ nó vẫn đang để dành. Xuân thấy thế thì khẽ hỏi em “Mày làm gì thế?” Hạ trả lời gọn lỏn “Mang đi! Chừng đó tiền chưa chắc đã đủ đâu” Hai đứa lấy vàng xong vội vã đi ngay. Nào ngờ khi chúng tới bến xe thì vô tình gặp một người đàn bà còn rất trẻ. Thấy chúng chỉ có hai chị em líu ríu dắt nhau đi, người đàn bà kia liền tới gần làm quen, còn mua cả nước ngọt mời uống. Hai chị em cứ như thế nghe theo, khi tỉnh lại thì mình đã ở một nơi xa xôi lắm. .......................................Rất nhiều năm sau, ở một thôn nhỏ trong một vùng quê Trung Quốc, người ta thường nghe thấy tiếng khóc của một người đàn bà vào lúc nửa đêm. Tiếng khóc ấy phát ra từ căn nhà của lão Kiệm gù. Cả thôn ai cũng biết rằng người này mới được lão Kiệm gù mua về sau cái chết của cô vợ Đại Doanh. Mỗi lần tiếng khóc vang lên cũng có nghĩa là lão Kiệm đang sỉ nhục, đang ngược đãi người ấy. Nằm trong chăn nệm ấm sực, chẳng có ai buồn quan tâm xem sự tình thế nào. Người nào tốt bụng lắm thì tặc lưỡi, kẻ nào vô tâm thì lại kéo chăn quá đầu ngủ tiếp. Chuyện chẳng có gì liên quan đến mình, mắc mớ gì phải quan tâm? Dân trong thôn ai cũng nghĩ như vậy. Những đêm tuyết rơi ngập trời, bà Xuân lại nhớ đến ba đứa em đáng thương của mình. Nhất là con bé Hạ. Khi bà Xuân bị bán đi, con bé vẫn còn đang lên cơn sốt. Thằng Quan khi xưa ốm còn có bố mẹ chăm lo, cái Hạ thì không có. Mỗi lần nghĩ đến mấy đứa nó, tim bà Xuân lại đau thắt, hệt như có ai đang bóp nghẹt. Khi gặp con bé Linh, bà cứ nghĩ cái Hạ trở về. Cả đêm hôm ấy bà không sao ngủ được. Cái Linh cao hơn, da trắng hơn vài phần, nhưng đường nét trên gương mặt thì giống y hệt đứa em gái của bà. Khi con bé đưa cho bà cục thuốc nổ trong tay, bà đã từng nghĩ hay là mình sẽ tự sát cùng với lão Kiệm. Thế rồi bà lại lắc đầu cãi lại chính mình. Nếu chỉ có bà và lão kia chết thì phí phạm thuốc nổ quá. Cái Linh bảo rằng, thứ thuốc nổ này có lực công phá rất mạnh, chỉ cần một quả cũng có thể làm cho một người bị thương rồi chảy máu đến chết. Huống chi trong tay bà có những ba quả. Bà nằm trằn trọc trong gian buồng nhỏ để nghĩ ngợi. Sau một đêm thì đưa ra quyết định, chờ cho bọn thằng Ngụy đến, bà sẽ chết cùng chúng nó. Đám đàn ông này cứ tới cuối tháng sẽ đến để lấy tiền đặt cọc từ chỗ lão Kiệm. Khi ấy là thời điểm duy nhất của bà. ..................................... Đêm cuối tháng trời mịt mùng chẳng hề có trăng sao, tuyết rơi bên ngoài càng lúc càng dữ dội. Ngày mai thằng Ngụy sẽ đến, bà sẽ giải thoát khỏi đau khổ bấy lâu đồng hồ cổ trong căn phòng khách vọng lại nghe thật vui tai. Bà đếm từng giờ, từng phút để gặp lại mấy đứa em, và gặp lại cả đứa con mệnh bạc không may mất sớm của mình. Người ta cứ bảo, kiếp này đau khổ là do kiếp trước làm nhiều việc ác. Bà Xuân ngậm ngùi, có lẽ bốn chị em bà sinh ra trong gia đình của ông bà Tiều cũng có thể coi là quả báo. Sáng sớm hôm sau, lão Kiệm gù vào phòng bà. Lão chẳng nói chẳng rằng đè chặt bà xuống rồi bắt đầu sỉ nhục. Độ chừng nửa tiếng sau, lão đứng dậy rời đi. Khi bước đến cửa phòng còn không quên quay lại dặn bà mang lò sưởi than vào nhà để lát nữa bọn thằng Ngụy tới. Bà Xuân uể oải mặc lại bộ quần áo xộc xệch trên người. Hai hàng nước mắt nóng hổi lăn trên gò má nhăn nheo đã sạm lại của bà. Lần sỉ nhục cuối cùng. Lần đau khổ cuối cùng. Tất cả mọi thứ sắp chấm dứt tại đây được rồi. ............................𝟴 𝗴𝗶𝗼̛̀ 𝘀𝗮́𝗻𝗴 𝗻𝗴𝗮̀𝘆 𝟭𝟳 𝘁𝗵𝗮́𝗻𝗴 𝟭𝟮. Trời đã ngưng đổ tuyết để chuẩn bị cho một trận tuyết còn lớn hơn lúc trước. Thằng Ngụy và gã béo Tiểu Triệu đang ngồi trong nhà, thư thả uống trà với lão bàn là một xấp tiền đặt cọc. Bà Xuân nghe loáng thoáng rằng có một nhà giàu nọ muốn mua một lúc bốn đứa trẻ, dự định đặt tên là Tứ Quý nghĩa là Xuân Hạ Thu Đông. Bọn Tiểu Triệu nghe thế thì gật gù đồng ý, chỉ có điều tìm trẻ con sẽ khó hơn. Cả ba người đàn ông bàn bạc hồi lâu, một lúc sau lão Kiệm quát bà Xuân mang đồ ăn lên để lão nhắm rượu. Bà Xuân khẽ đáp lại một tiếng rồi lục tục xếp vào khay một mâm rượu thịt thơm lừng. Khi mâm cơm vừa mang lên, thằng béo Tiểu Triệu ngạc nhiên thấy ở giữa mâm có mấy ống tre trông rất lạ mắt. Nó hỏi thì bà Xuân trả lời rằng đó là cơm ống lam của người Việt. Ở quê bà người ta thường ăn cơm này vào ngày mưa rét. Lão Kiệm và thằng béo ồ lên một tiếng, thằng Ngụy gật gù vì gã cũng đã từng thưởng thức món này ở mạn Chùa Hương. Khi thằng béo định lấy ống tre thì bà Xuân đã nhanh tay đón lấy rồi mỉm cười “Cơm đã nguội! Để tôi hong ở trên bếp than hồng ngay tại đây.” Cả ba người kia không nói gì. Giây phút bà Xuân đưa mấy chiếc ống lam vào trong lò, trước mắt bà hiện lên hình ảnh bốn chị em cười đùa với nhau dưới một góc sân nhà. ..........................8 giờ 37 phút sáng. Người dân trong thôn Bạch Thủ được một phen hoảng hồn vì nghe thấy một tiếng nổ ầm ầm phát ra từ căn nhà ở giữa thôn. Khi mọi người chạy đến, gian phòng khách của lão Kiệm lúc này đã bị thổi tung một góc. Cát đá, bụi bặm bay tung tóe khắp nơi. Ai nấy cũng đều rụng rời chân tay trước cảnh tượng ấy. Một người đàn ông gào lên “Mau vào cứu người!!! MẸ CHÚNG MÀY! CÒN ĐỢI CÁI GÌ NỮA?” Đám thanh niên luống cuống chạy vào bên trong. Mùi thuốc nổ vẫn bốc lên nồng nặc. Hiện trường có bốn người chết, trong đó ba người đàn ông đều nằm đè lên trên cái bàn đã thành gỗ vụn. Máu thịt bầy nhầy bắm tung tóe, nhiều người trông thấy cảnh tượng đó bèn nôn thốc nôn tháo. Đám đàn ông trong làng tìm được mấy chiếc xẻng xúc tuyết để hốt xác của các nạn nhân. Máu thịt lúc này đã hòa lẫn với nhau, căn bản không thể nào còn phân biệt được của ai vào với ai nữa. Một người đàn ông phát hiện thấy một nửa cái đầu nằm giữa vũng máu trên góc nhà. Phần sọ lúc này đã rơi ra một nửa. Nhìn thoáng qua đã đủ kinh hồn bạt vía, không ai dám lại gần để nhặt chiếc đầu lên. Lúc ấy Lý Tam đến, gã xung phong đi vào nhặt đầu nọ. Nhìn thấy cái đầu, gã cố gắng nén một trận nôn khan rồi tiến lại gần. Hai bàn tay thô bè của lão bưng một nửa cái đầu lên. Tóc, máu và thịt lẫn lộn với nhau. Lý Tam nhận thấy đây là đầu của bà Xuân. Gã nhìn một lúc rồi thốt lên với người trong thôn đang nín thở theo dõi “Mọi... mọi người ơi... Mụ Xuân... Mụ... mụ ấy đang mỉm cười...!!!” .........................................................𝗩𝗮̀𝗶 𝘁𝗵𝗮́𝗻𝗴 𝘀𝗮𝘂 Trong một phòng bệnh ở bệnh viện thuộc huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang, một người đàn bà băng mắt đang ngồi bất động trên giường. Mụ chỉ bị thương một mắt, mắt kia vẫn có thể nhìn được nhưng mụ nằng nặc đòi bác sĩ phải băng cả hai mắt cho mình. Bởi lẽ, cứ mỗi lần mở mắt ra là mụ lại thấy một người đàn bà mặc áo đỏ áo đen đứng trước cửa phòng bệnh. Ký ức ngày bé của mụ lại ùa về như một thước phim quay chậm. Cây hòe già nằm im lìm bên cạnh cái giếng, nụ cười của chị Xuân, của em Thu và em Đông rực rỡ trong ánh nắng mặt trời. Nước mắt chảy ra lại làm cho cơn đau của mụ buốt đến tận óc. Mấy người cảnh sát mặc quân phục màu xanh đi đi lại lại. Họ chưa hỏi mụ điều gì cả, chỉ hỏi thăm sức khỏe và muốn mụ kể về thời thơ ấu của mình. Mụ cười nhạt trả lời “Tôi không có thời thơ ấu.” Dĩ nhiên là mụ nói thật, hoặc chí ít là mụ nghĩ rằng điều ấy là thật. Thời thơ ấu của mụ đã chấm dứt kể từ ngày mụ lấy vàng trong tủ của bố mẹ trốn đi cùng với chị ruột của mình. Bắt đầu từ đó, mụ không còn nhớ thêm điều gì nữa. Những gì còn sót lại trong kí ức của mụ là ở trong căn hầm dột nát toàn phân chuột. Thứ mùi ấy hôi nồng không kém mùi phân dê ở nhà mụ ngày trước. Khi chị Xuân bị một lão già mang đi, mụ còn đang sốt và tưởng rằng mình sẽ chết. Mụ khóc nức nở, mụ bị thằng cai ngục cưỡng bức để rồi gần chục ngày sau mụ bị bán đi với danh nghĩa một đùi gà. Có lẽ tuổi trẻ của mụ vớt vát lại cho mụ chút ít. Sau rất nhiều năm, mụ không còn dùng cái tên Hạ nữa. Mụ tự gọi mình là Sảng. Vì mỗi lần lên cơn mê sảng, mụ lại được về nhà, cùng mấy chị em đi hái măng trên rừng. Vào một ngày trời rét lạnh, hệt như cái đêm trước khi mụ cùng chị ruột trốn đi. Mụ nhìn thấy người đàn bà mặt đỏ mặt đen đứng trước cửa. Sau lưng người đàn bà kia là chị Xuân, cái Thu và con bé Đông. Mụ mỉm cười đờ đẫn, miệng hé môi “Cuối cùng thì chúng ta cũng đoàn tụ.” Mụ dồn hết sức lực của mình cắn thật chặt vào lưỡi. Một dòng máu tanh nồng xộc thẳng vào khoang miệng. Nghiệt ác mụ tạo ra quá nhiều, chỉ có cách này mới có thể đền tội. Trước khi chết mụ giật băng mắt nhìn ra bên ngoài. Ánh mắt trời buổi sáng đang chiếu nắng vào phòng bệnh. Ở ngoài kia, hình như mùa xuân đã về. ..............𝗛𝗲̂́𝘁 𝗻𝗴𝗼𝗮̣𝗶 𝘁𝗿𝘂𝘆𝗲̣̂𝗻 𝗽𝗵𝗮̂̀𝗻3 ........................Đ𝗼́𝗻 𝗰𝗵𝗼̛̀ 𝗻𝗴𝗼𝗮̣𝗶 𝘁𝗿𝘂𝘆𝗲̣̂𝗻 𝗽𝗵𝗮̂̀𝗻 4 𝗛𝗼̂̀𝗻 𝗠𝗮 𝗔 𝗣𝗵𝗼𝗻𝗴 𝗢̛̉ 𝗣𝗵𝗼́ 𝗕𝗮̉𝗻𝗴Xem Tiếp Phần 4 Hồn Ma A Phong Ngoại Truyện Tại ĐâyTruyện ma Việt Nam "trò chơi khiêng xác" chap 1Truyện ma Việt Nam "gặp quỷ trên đường Mê Linh"Truyện ma Việt Nam "vùng đất quỷ ám" chap 1Truyện ma Việt Nam "đứa con của quỷ" chap 1

truyện ma ngủ với người