🎉 Cham Soc Nguoi Benh Suy Tim
Những lưu ý khi chăm sóc bệnh nhân suy tim. Bệnh nhân suy tim cần tăng cường ăn rau xanh, trái cây, và các thực phẩm ít béo. 13.1K. Bài viết hữu ích? Chủ đề: Suy tim độ 3 Suy tim độ 1 Dinh dưỡng bệnh nhân suy tim Tim mạch Suy tim Suy tim độ 2 Suy tim giai đoạn cuối Tăng huyết áp.
3. CHĂM SÓC BỆNH NHÂN SUY TIM: 3.1 Hiểu triệu chứng của bệnh: Trái tim của chúng ta hoạt động như một máy bơm. Khi suy tim, chức năng tim giảm, không thể bơm đủ máu đi nuôi các cơ quan, vì thế thường gây ra tình trạng ứ dịch. Do đó, một số triệu chứng thường gặp của
Vì vậy phải chăm sóc trước mổ cho người bệnh một cách chu đáo về thể chất, tinh thần. Phẫu thuật cũng có thể gây biến chứng cho người bệnh,do đó phải biết cách chăm sóc,ngăn ngừa và phát hiện sớm các biến chứng có thể xảy ra.Vì vậy không thể thiếu vai trò của
Chăm sóc người bệnh suy tim 08/12/2016 20:05:56 CHĂM SÓC BỆNH NHÂN SUY TIM. 1.Bệnh học của suy tim. 1.1. Nguyên nhân vân cơ chế bệnh sinh. 1.1.1.Nguyên nhân 1.1.1.1.Nguyên nhân của suy tim trái _Nhồi máu cơ tim. _Viêm cơ tim do nhiễm độc,nhiễm trùng. _Các bệnh cơ tim.
CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH SUY TIM Suy tim là một trong những gánh nặng y tế hàng đầu hiện nay do tỷ lệ mắc bệnh cao và xu hướng ngày càng gia tăng. Ở Việt Nam, ước tính có khoảng 1,6 triệu người bị
Bệnh viện là nơi em ghét tới nhất! Thế nhưng sau khi nhìn thấy cảnh bác sĩ chăm sóc bệnh nhân em đã thay đổi suy nghĩ đó và có một cái nhìn khách quan hơn về bệnh viện. Vì chủ quan mà em đã bị cảm lạnh.
Người suy tim hoạt động thể lực phù hợp mang lại nhiều lợi ích: - Giúp người bệnh kiểm soát được mức cân nặng hợp lý. - Đem lại sự ổn định huyết áp và nhịp tim. - Đường huyết và mỡ máu cũng được ổn định. - Giúp người bệnh thư giãn và cải thiện sức
Chẩn đoán điều trị và chăm sóc người bệnh u xơ tử cung. Chẩn đoán điều trị và chăm sóc người bệnh u phì đại (lành tính) tuyến tiền liệt. Chẩn đoán điều trị và chăm sóc người bệnh cắt Amidan. Chẩn đoán và điều trị bệnh u lành tuyến vú. Tiêu điểm.
Vì bệnh suy tim sẽ không hết, bạn cần học cách chăm sóc tình trạng mình. Bài liên quan suy tim. Kiểm soát đường huyết kém dễ bị suy tim; Bệnh tim mạch – những phát hiện mới về dấu hiệu nhận biết sớm; Thuốc điều trị phù do suy tim chứa hoạt chất hydroclorothiazid [Phần 1]
BRf1. Tài liệu học tậpChăm sóc người bệnh suy tim08/12/2016 200556 CHĂM SÓC BỆNH NHÂN SUY TIM học của suy Nguyên nhân vân cơ chế bệnh nhân của suy tim trái _Nhồi máu cơ tim. _Viêm cơ tim do nhiễm độc,nhiễm trùng. _Các bệnh cơ tim. _Cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất, cơn cuồng động nhĩ, rung nhĩ nhanh. _Cơn nhịp nhanh kịch phát thất. _Bloc nhĩ thất. _Tăng huyết áp động mạch. _Hở, hẹp van động mạch chủ đơn thuần hay phối hợp. _Hẹp eo động mạch chủ. _Tim bẩm nhân của suy tim phải _Hẹp van hai lá là nguyên nhân thường gặp nhất. _Các bệnh phỏi mạn tính như hen phế quản, viêm phế quản man, lao xơ phổi, giãn phế quản. _Nhồi máu phổi gây tâm phế cấp. _Gù vẹo cột sống, dị dạng lồng ngực. _Bệnh tim bẩm sinh như tứ chứng Fallot, thông liên nhĩ, thông liên thất. _Viêm nội tâm mạc nhiễm trùng, tổn thương van ba lá. _Một số nguyên nhân ít gặp như u nhầy hĩ trái… nhân của suy tim toàn bộ. Ngoài 2 nguyên nhân trên của tim dẫn đến suy tim toàn bộ, còn gặp các nguyên nhân sau _Các bệnh cơ tim giãn. _Suy tim toàn bộ do đường giáp trạng. _Thiếu vitamin B1, thiếu máu chế bệnh sinh Chức năng huyết động cung lượng tim của tim phụ thuộc vào 4 yếu tố tiền gánh, hậu gánh, sức co bóp cơ tim và nhịp tim. Tiền gánh Cung lượng timSức co bóp Hậu gánh Tần số tim _Tiền gánh là độ kéo dài của các sợi cơ tim sau tâm trương, tiền gánh phụ thuộc vào lượng máu dồn về thất và được thể hiện bằng thể tích và áp lực máu trong tâm thất thì tâm trương. _Hậu gánh là sức cản mà tim gặp phải trong quá trình co bóp tống máu, đứng hàng đầu là sức cản ngoại vi, hậu gánh tăng thì tốc độ các sợi cơ tim giảm, do đó thể tích tống máu trong thì tâm thu giảm. _Sức co bóp cơ tim sức co bóp cơ tim làm tăng thể tích tống máu trong thì tâm thu, sức co bóp cơ tim chịu ảnh hưởng của thần kinh giao cảm trong cơ tim và lượng cathecholamin lưu hành trong máu. _Tần số tim tần số tim tăng sẽ tăng cung lượng tim, tần số tim chịu ảnh hưởng của thần kinh giao cảm trong tim và lượng cathecholamin lưu hành trong máu. Trong suy tim, cung lượng tim giảm, nên trong giai đoạn đầu sẽ có tác dụng bù trù _Máu ứ lại tâm thất làm các sợi cơ tim bị kéo dài ra, tâm thất giãn, sức tống máu mạnh hơn nhưng đồng thời cũng tăng thể tích cuối tâm trương. _Dày thất do tăng đường kính các tế bào, tăng số lượng ti lạp thể, tăng sô đơn vị co cơ mới đánh dấu giai đoạn bắt đầu sự giảm sút chức năng co bóp cơ tim. Khi các cơ chế bù trù bị vượt quá, suy tim trở nên mất bù và các triệu chứng lâm sàng sẽ xuất chứng lâm sàng và cận lâm sàng của suy tim chứng lâm sàng. _Triệu chứng cơ năng có 2 triệu chứng chính khó thở và ho. Khó thở là triệu chứng thường gặp nhất. Lúc đầu khó thở khi gắng sức, về sau khó thở từng cơn, có khi khó thở đột ngột, khó thở tăng dần. Ho hay xảy ra vào ban đêm khi bệnh nhân gắng sức, đôi khi đờm có lẫn máu. _Triệu chứng thực tế khám tim nhìn thấy mỏm tim lệch về phía bên trái, nghe được các triệu chứng có thể phát hiện được nguyên nhân của suy tim trái. Ngoài ra còn nghe được một tiếng thổi tâm thu nhẹ ở mỏm tim, đó là dấu hiệu của hở van hai lá cơ năng. +Khám phổi nghe đc ran ẩm ở cả hai đáy phổi. Trong trường hợp cơn hen tim có thể nghe được nhiều ran rít, ran ẩm cả hai đáy phỏi dân lên đỉnh phổi. +Huyết áp huyết áp tối đa bình thường hay giảm, huyết áp tối thiểu bình chứng cận lâm sàng. _X quan tim phổi phim thẳng tim to, nhất là các buồng tim bên trái, nhĩ trái lớn hơn trong hở hai lá, thất trái giãn biểu hiện cung dưới trái phòng và dày ra, phổi mờ nhất là vùng rốn phổi. _Điện tâm đồ có thể tăng gánh tâm trương hoặc tâm thu thất trái. Trục trái, dày thất trái. _Siêu âm tim kích thước buồng tim trái giãn to, siwu âm còn cho biết được sự co bóp của vách tim cũng như đánh giá chính xác được chức năng của thất trái. _Thăm dò huyết động có điều kiện thông tin chụp mạch, đánh giá chính xác mức độ nặng nhẹ của một số bệnh vân tim lâm sàng _Triệu chứng cơ năng +Khó thở nhiều hay ít tuỳ theo mức độ suy tim, khó thở thường xuyên, nhưng khồng có cơn khó thở kịch phát như suy tim phải. +Xanh tím nhiều hay ít tuỳ theo nguyên nhân và mức độ của suy tim phải. _Triệu chứng thực thể chủ yếu là ứ máu ngoại biên, thể hiện +Gan to đều, bờ tù, mặt nhẵn, ấn đau tức, khi điều trị tích cực bằng trợ tim và lợi tiểu gan sẽ nhỏ lại, hết điều trị gan to ra gọi là đàn xếp, cuối cùng vì ứ máu lâu ngày gan không thu nhỏ lại được gọi là xơ gan tim. Gan có đặc điểm là bờ sắc, mật độ chắc. +Tĩnh mạch cổ nổi to, phản hồi gan tĩnh mạch cổ + ở tư thế 45 độ/ +Áp lực tĩnh mạch trung ương và áp lực tĩnh mạch ngoại biên tăng cao. +Phù mềm lúc đầu ở hai chi dưới về sau suy tim thường phù toàn thành có thể kèm theo cổ trướng, tràn dịch màng phổi. +Tiểu ít, lượng nước tiểu khoảng 200-300 ml trong 24 giờ. +Khám tim nghe được nhịp tim nhanh, có khi có tiếng ngựa phi nhanh, có thể nghe được tiếng thổi tâm thu ở van ba lá do hở ba lá cơ năng do giảm buồng thất phải. +Huyết áp động mạch tối đa bình thường, huyết áp tối thiểu chứng lâm sàng. _X quang tim phổi phổi mờ, cung dưới phải giãn, nỏm tim nhếch lên do thất phải gian. Trên phim nghiêng trái mất khoảng sáng sau xương ức. _Điện tâm đồ trục phải, dày thất phải. _Siêu âm tim chủ yếu thất phải giãn to, trong nhiều trường hợp thấy tăng áp động mạch chủ. _Thăm dò huyết động áp lực cuối kỳ tâm trương thất phải tăng, áp lực động mạch chủ thường tim toàn bộ Biểu hiện các triệu chứng như _Bệnh nhân khó thở thường xuyên, phù toàn thân. _Tĩnh mạch cổ nổi to. _Gan to nhiều. _Thường có cổ chướng, tràn dịch màng phổi. _Huyết áp tối đa giảm, huyết áp tối thiểu tăng. _Tim to toàn bộ trên phim chụp X quang tim phổi. _Điện tâm đồ có thể biểu hiện dày cả hai độ suy Hội Tim Mạch New York Thông dụng hiện nay, được chia làm 4 độ_Độ 1 bệnh nhân có bệnh tim nhưng không có triệu chứng cơ năng nào, hoạt động thể lực vẫn bình 2 các triệu chứng cơ năng xuất hiện khi gắng sức, hạn chế hoạt động thể 3 các triệu chứng cơ năng xuất hiện ngay cả khi gắng sức nhẹ, làm hạn chế hoạt động thể 4 các triệu chứng cơ năng xuất hiện thường xuyên kể cả khi nghỉ độ suy tim man theo Trần Đỗ Trinh và Vũ Đình Hải. _Suy tim độ 1 khó thở khi gắng sức, ho ra máu, không phù, gan không to. _Suy tim độ 2 khó thở khi đi lại, khi phải ngừng lại để thở, phù nhẹ, gan chưa lớn hợac chỉ dưới 2cm dưới bờ sườn. Phản hồi gan tĩnh mạch cổ + ở tư thế 45 độ. _Suy tim độ 3 khó thở nặng hơn, phù toàn, gan > 3cm dưới sường, mềm phản hồi gan tĩnh mạch cổ + ở tư thế 45 độ điều trị gan nhỏ lại hoàn toàn. _Suy tim độ 4 khó thở thường xuyên, bệnh nhân phải ngồi dậy để thở, gan >3cm dưới sườn, mật độ chắc, bờ sắc, điều trị không đáp ứng hoặc nhỏ lại trị _Nghỉ ngơi là quan trọng, trong trường hợp suy tim nặng phải cho bệnh nhân nghỉ ngơi tại giường. _Không được để bệnh nhân gắng sức như lên cầu thang, mang vật nặng… _Tăng cường sự co bóp cơ tim bằng các thuốc digitalí digoxin có tác dụng tăng sức co bóp cơ tim và làm chậm nhịp tim do đó làm tăng cung lượng tim. Digitalis cho vừa đủ và cho thêm kali để tránh ngộ độc. Khi điều trị digital cần lưu ý dấu chứng ngộ độc digital như +Bệnh nhân nôn mửa, đau bụng, mờ mắt, nhìn dôi, đại phần lỏng. +Ngoại tâm thu hút thất nhịp đôi hay ác tính. +Hoặc nhịp tim tăng vọt lên trong khi đang dùng digital hoặc chậm lại với bloc nhĩ thất, hoặc nhịp bộ nối. _Hạn chế ứ máu tuần hoàn bằng các thuốc lợi tiểu có nhiều loại lợi tiểu nhưng trong suy tim thường dùng 3 loại hydrochorothiazid, furosemid, aldacton. Khi dùng thuốc lợi tiểu phải cho bệnh nhân ướng kali vì thuốc lợi tiểu làm mất kali. _Hạn chế nước uống, lượng nước đưa vào căn cứ vào lượng nước tiểu hàng ngày. _Chế độ ăn nhạt muối, suy tim độ I, độ II lượng muối ăn dưới 2g/ ngày, độ III và độ IV lượng muối ăn dưới 0,5 g/ngày. sóc bệnh nhân suy Nhân định tình Thăm Thu nhập dữ đoán điều dưỡng Một số chẩn đoán điều dưỡng có thể gặp ở bệnh nhân suy tim _Khó thở do tăng áp lực ở phổi. _Xanh tím do giản đọ bão hoà oxy máu. _Số lượng nước tiểu ít do giảm tuần hoàn hiệu dụng. _Nguy cơ phù phổi cấp do suy tim trái. _Nguy cơ bội nhiễm hổi do ứ máu ở Lập kế hoạch chăm sóc cơ bản. _Chế độ nghỉ ngơi bệnh nhân nằm ở tư thế nửa nằm, nưũa ngồi. _Chế độ ăn uống. _Vận động nhẹ nhàng ngoài cơn khó hiện y lệnh. _Cho bệnh nhân dùng thuốc, tiêm thuốc theo y lệnh. _Làm các xét nghiệm cơ dõi _Theo dõi mạch, nhiệt, huyêt áp, nhịp thở, kiểu thở. _Theo dõi tình trạng tinh thần. _Theo dõi lượng nước tiểu trong 24 giờ. _Theo dõi tình trạng phù, tính chất của gan. _Theo dõi các xétnghiệm. _Theo dõi các tác dụng phụ của thuốc digõin Giáo dục sức khoẻ. _Chế độ ăn uống, nghỉ ngơi. _Lao động và vận động. _Dùng thuốc và tái khám định hiện kế hoạch chăm hiện chăm sóc cơ bản. _Nghỉ ngơi tuyệt đối tại giường theo tu thế nửa nằm nửa ngồi trong trường hợp suy tim nặng. _Cần giảm hoặc bỏ hẳn các hoạt động gắng sức. _Các trường hợp khác dùng rất hạn chế muối 1-2-g/ ngày. _Ăn nhiều hoa quả để tăng vitamin và kali chuối tiêu, cam. _Hạn chế uống nước dựa vào lượng nước tiểu trong 24 giờ để uống bù nước. _Khuyên bệnh nhân nên xoa bóp và làm một số động tác ở các chi, nhất là hai chi dưới để làm cho máu ngoại vi về tim dễ dàng hơn, giảm bớt các nguy cơ gây tắc mạch, vận động nhẹ nhàng không gây hiện y lệnh của thầy thuốc. _Cho bệnh nhân dùng thuốc theo đúng chỉ định. _Cần lưu ý khi dùng thuốc điều trị suy tim phải dùng kèm kali clorua. _Trước khi dùng digoxin, islanid phải đếm mạch, nếu mạch chậm phải báo cho bác sĩ biết. _Thực hiện các xét nghiệm xét nghiệm máu, nước tiểu, điện tim siêu âm, X quang phổi, áp lực tĩnh mạch trung dõi. _Mạch, nhịp tim, ECG. _Nhiệt độ, huyết áp theo mức độ suy tim. _Lượng nước tiểu trong 24 giờ. _Tình trạng hô hấp nhịp thở, kiểu thở, tần số thở. _Tình trạng tinh thần, màu sắc của dục sức khoẻ. _Hướng dẫn bệnh nhân chế độ ăn uống, nghỉ ngơi ăn nhạt, tránh làm việc nặng, gắng sức và các biến chứng nguy hiểm của suy tim nếu không được điều trị, chăm sóc tốt. _Hướng dẫn bệnh nhân cách tự xoa bóp, vận động. _Hướng dẫn bệnh nhân dùng thuốc theo đơn, chế độ khám định giá quá trình chăm sóc. Một bệnh nhân suy tim được đánh giá chăm sóc tốt nếu_Bệnh nhân cảm thấy đỡ khó thở, phù giảm, gan nhỏ lại, mạch giảm, số lượng nước tiểu dần trở về bình nhân đươc chăm sóc chu đáo cả về thể chất lẫn tinh xảy ra các tác dụng phụ của dấu hiệu sinh tồn, các kêts quả xét nghiệm được theo dõi và ghi chép đầy đủ. _Bệnh nhân được hướng dẫn chế độ nghỉ ngơi, ăn uống, tự vần dộng và xoa bóp, đồng thời tuân thủ chỉ định điều trị và chăm sóc của thấy thuốc. Nguồn Tài liệu Y học
ArticlePDF AvailableAbstractMục tiêu Mô tả thực trạng kiến thức và thực hành tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn điều trị tại khoa Nội tim mạch - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh, năm 2021. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 120 người bệnh được chẩn đoán suy tim mạn điều trị nội trú tại khoa Nội Tim mạch - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh. Kết quả Kiến thức tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn tham gia nghiên cứu thấp với điểm trung bình kiến thức là 11,1 ± 2,1 điểm trên tổng điểm 22, điểm thấp nhất là 6 điểm, cao nhất là 16 điểm, trong đó tỷ lệ người bệnh có kiến thức ở mức khá là 40,0%; tỷ lệ người bệnh có kiến thức ở mức trung bình là 60,0%; không có người bệnh nào có kiến thức ở mức tốt và kém. Thực hành tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn được tính trên tổng điểm 100 cho mỗi nội dung Thực hành về duy trì chăm sóc chỉ đạt 51,1 ± 19,5 điểm và chỉ có 19,2% người bệnh đạt duy trì chăm sóc; thực hành về quản lý chăm sóc chỉ đạt 49,4 ± 19,8 điểm và chỉ có 22,5% người bệnh đạt quản lý chăm sóc; thực hành về sự tự tin đạt 50,5 ± 16,1 điểm và chỉ có 17,5% người bệnh đạt tự tin trong tự chăm sóc. Kết luận Người bệnh suy tim mạn đã có kiến thức và thực hànhtự chăm sóc suy tim mạn nhưng chưa cao. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự cần thiết phải có biện pháp nâng cao kiến thức và thực hành tự chăm sóc cho người bệnh suy tim mạn. Discover the world's research25+ million members160+ million publication billion citationsJoin for freeContent may be subject to copyright. 69Khoa học Điều dưỡng - Tập 04 - Số 03NGHIÊN CỨU KHOA HỌCKIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH TỰ CHĂM SÓC CỦA NGƯỜI BỆNH SUY TIM MẠN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH QUẢNG NINH NĂM 2021Đào Thị Phương1, Trần An Dương11Trường Cao đẳng Y tế Quảng NinhTÓM TẮTMục tiêu Mô tả thực trạng kiến thức và thực hành tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn điều trị tại khoa Nội tim mạch - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh, năm 2021. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 120 người bệnh được chẩn đoán suy tim mạn điều trị nội trú tại khoa Nội Tim mạch - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh. Kết quả Kiến thức tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn tham gia nghiên cứu thấp với điểm trung bình kiến thức là 11,1 ± 2,1 điểm trên tổng điểm 22, điểm thấp nhất là 6 điểm, cao nhất là 16 điểm, trong đó tỷ lệ người bệnh có kiến thức ở mức khá là 40,0%; tỷ lệ người bệnh có kiến thức ở mức trung bình là 60,0%; không có người bệnh nào có kiến thức ở mức tốt và kém. Thực hành tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn được tính trên tổng điểm 100 cho mỗi nội dung Thực hành về duy trì chăm sóc chỉ đạt 51,1 ± 19,5 điểm và chỉ có 19,2% người bệnh đạt duy trì chăm sóc; thực hành về quản lý chăm sóc chỉ đạt 49,4 ± 19,8 điểm và chỉ có 22,5% người bệnh đạt quản lý chăm sóc; thực hành về sự tự tin đạt 50,5 ± 16,1 điểm và chỉ có 17,5% người bệnh đạt tự tin trong tự chăm sóc. Kết luận Người bệnh suy tim mạn đã có kiến thức và thực hành tự chăm sóc suy tim mạn nhưng chưa cao. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự cần thiết phải có biện pháp nâng cao kiến thức và thực hành tự chăm sóc cho người bệnh suy tim mạn. Từ khóa Suy tim mạn, kiến thức, thực hành, tự chăm KNOWLEDGE AND PRACTICES OF PATIENTS WITH CHRONIC HEART FAILURE AT QUANG NINH GENERAL HOSPITAL 2021ABSTRACTObjective To description of knowledge and practice of self-care of chronic heart failure patients treated at Cardiology Department - Quang Ninh General Hospital, 2021. Method A cross-sectional study design was conducted among 120 patients with chronic heart failure hospitalized at the Cardiovascular Department of Quang Ninh General Hospital. Results Self-care knowledge of patients with chronic heart failure participated in the study was low with the mean score of ± points out of the total 22 points, the lowest score was 6 points, and the highest score was 16 points, in which the proportion Tác giả Đào Thị Phương Địa chỉ Trường Cao đẳng Y tế Quảng NinhEmail Ngày phản biện 05/9/2021Ngày duyệt bài 11/9/2021Ngày xuất bản 30/9/2021 70 Khoa học Điều dưỡng - Tập 04 - Số 03NGHIÊN CỨU KHOA HỌCof patients with good knowledge was the percentages of patients who had the good and average levels of self-care knowledge were and respectively. No one was at poor or perfect level of self-care knowledge. Self-care practice of patients with chronic heart failure was calculated on a total of 100 points for each subscale Practice of maintenance of care only reaches ± points and only of patients achieve a good level of care maintenance; practice of care management only achieved ± points and only of patients achieved care management level; practice on self-condence reached ± points and only of patients achieved condence in self-care level. Conclusion The self-care knowledge and practice of patients with chronic heart failure was not enough. This result shows the need to improve self-care knowledge and practice for patients with chronic heart failure. Keywords Chronic heart failure, knowledge, practice, ĐẶT VẤN ĐỀSuy tim là một hội chứng bệnh lý thường gặp trên lâm sàng [1], là một trong những nguyên nhân hàng đầu của tình trạng nhập viện điều trị, tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao ở nhiều nước. Theo thống kê, có khoảng 26 triệu người trên toàn thế giới mắc suy tim [2]. Tại Việt Nam, tuy chưa có một nghiên cứu chính thức về tỉ lệ mắc suy tim, nhưng theo tần xuất mắc bệnh của thế giới thì ước tính có khoảng đến 1,6 triệu người bị suy tim [3]. Các nước phát triển dành 1- 2% chi phí chăm sóc sức khoẻ cho khám và điều trị suy tim. Thực tế, hơn một nửa số trường hợp suy tim mạn tái nhập viện là do bệnh trầm trọng và là kết quả trực tiếp của việc tự chăm sóc kém [4]. Việc người bệnh suy tim, tự chăm sóc kém sẽ càng làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh, tăng tỷ lệ tái nhập viện và tăng nguy cơ tử vong ở người bệnh suy tim mạn [5],[6]. Tại Việt Nam, người cao tuổi suy tim mạn có hành vi tự chăm sóc ở mức độ thấp chiếm từ 50,9% - 83,6% [7]. Tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh, trong những năm gần đây số người bệnh nằm điều trị nội trú tại khoa Nội Tim mạch vì suy tim khá cao 2018 khoảng 560 lượt người bệnh; năm 2019 khoảng 675 lượt và thường tái nhập viện nhiều lần. Hiện nay, tại Quảng Ninh các nghiên cứu trên người bệnh suy tim thường tập trung vào lĩnh vực điều trị và chưa có nghiên cứu về lĩnh vực chăm sóc. Dưới góc độ điều dưỡng, với mong muốn tìm hiểu sâu về vấn đề tự chăm sóc của người bệnh suy tim, đặc biệt về kiến thức và thực hành tự chăm sóc của người bệnh trong thời điểm dịch Covid 19. Tạo cơ sở giúp cho lãnh đạo bệnh viện xây dựng những chương trình can thiệp hiệu quả, từ đó góp phần làm giảm tỷ lệ nhập viện, tử vong do suy tim gây ra, đồng thời góp phần mở rộng và cải thiện chất lượng dịch vụ chăm sóc y tế. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Kiến thức và thực hành tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh, năm 2021” nhằm mục tiêu mô tả thực trạng kiến thức và thực hành tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn điều trị tại khoa Nội tim mạch - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh, năm ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG Đối tượng nghiên Tiêu chuẩn lựa chọnNgười bệnh được chẩn đoán suy tim mạn lần thứ 2 trở đi khi đó người bệnh đã có trải nghiệm về thực hành tự chăm sóc; người bệnh suy tim mạn nằm viện điều trị 71Khoa học Điều dưỡng - Tập 04 - Số 03NGHIÊN CỨU KHOA HỌCtừ ngày thứ 3 trở đi khi các triệu chứng bệnh dần ổn định; người bệnh có đủ năng lực trả lời phng vấn, biết chữ; người bệnh tự nguyện tham gia nghiên Tiêu chuẩn loại trừNgười bệnh trong tình trạng nặng hoặc có thêm các bệnh lý nặng đang phải điều trị tích cực; người bệnh mắc bệnh mạn Thời gian và địa điểm nghiên cứu Thời gian nghiên cứu từ tháng 01- 5/2021 tại khoa Nội Tim mạch Bệnh viện tỉnh Quảng Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu mô tả cắt Cỡ mẫu Chọn mẫu toàn Phương pháp chọn mẫu Chọn mẫu thuận tiện n= Công cụ và phương pháp thu thập số liệu Trên cơ sở bộ câu hi gốc bản tiếng Anh về đánh giá kiến thức và thực hành tự chăm sóc trong suy tim thường được các tác giả nước ngoài sử dụng, bộ câu hi đã được dịch sang tiếng Việt và sử dụng bởi một số nghiên cứu trong nước. Hệ số Cronbach alpha cho cả phần kiến thức và thực hành của bộ công cụ đều đạt 0,8. Phần kiến thức sử dụng bộ câu hi Atlan-ta Heart Failure Knowledge Test AHFKT - V2, được phát triển bởi tác giả Carolyn Miller Reilly, gồm 22 câu. Phần thực hành sử dụng bộ câu hi về hành vi tự chăm sóc Self-care of heart failure index SCHFI, được phát triển bởi tác giả Riegel Barbara 2009 gồm 22 câu hi chia làm 3 lĩnh Phương pháp thu thập số liệuBước 1 Lấy danh sách NBBước 2 ĐTV giải thích về mục đích, ý nghĩa của nghiên 3 Phng vấn ĐTNC bằng phiếu điều Tiêu chuẩn đánh giá các biến số nghiên Đánh giá kiến thức với mỗi câu hi về kiến thức, người bệnh trả lời đúng được 1 điểm, trả lời sai hoặc b trống câu trả lời tính 0 điểm. Áp dụng cách phân loại kiến thức theo bộ câu hi Atlanta Heart Eailure Knowledge Test AHFKT và theo nghiên cứu của Trần Thị Ngọc Anh tại Viện tim mạch Việt Nam [8] cụ thể như sau Từ 0 - 5 điểm kiến thức kém; từ 6 -11 điểm kiến thức trung bình; từ 12 - 17 điểm kiến thức khá; từ 18 - 22 điểm kiến thức Đánh giá thực hành Mỗi lĩnh vực thực hành tự chăm sóc được tính riêng với phổ điểm từ 0 - 100 điểm. Áp dụng cách phân loại thực hành tự chăm sóc theo bộ câu hi Self-Care of Heart Failure Index SCHFI cụ thể như sauNội dung đánh giá Cách tính điểm Không đạt ĐạtThực hành duy trì chăm sóc từ 10 - 40 điểm Tổng điểm duy trì chăm sóc -10 x 3,333=70 điểmThực hành quản lý chăm sóctừ 4 - 24 điểm Tổng điểm quản lý chăm sóc -4 x 5Sự tự tin từ 6 - 24 điểm Tổng điểm sự tự tin - 6 x 5, Phương pháp xử lý số liệu Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê y học trên phần mềm SPSS và bảng tần số và tỷ lệ phần trăm để mô tả các kết quả liên quan. 72 Khoa học Điều dưỡng - Tập 04 - Số 03NGHIÊN CỨU KHOA HỌC3. KẾT QUẢ Thông tin chung của đối tượng nghiên cứuBảng 1. Đặc điểm nhân khẩu họcĐặc điểm nhân khẩu học SL %Tuổi=60 tuổi 88 73,3Cao nhất 88Thấp nhất 22Trung bình X ± SD 65,4 ± 12,6Trung vị 66,0Yếu vị 60Trình độ học vấnTiểu học 27 22,5Trung học cơ sở 54 45Trung học phổ thông 22 18,4Trung cấp, Cao đẳng, Đại học 17 14,2 Nghề nghiệpNông dân 14 11,7Công nhân, viên chức 36 30,0Nghỉ hưu 64 53,3Tự do 6 5,0Nhận xét Người bệnh từ 60 tuổi trở lên chiếm 73,3%, tuổi trung bình là 65,4 ± 12,61 tuổi, tuổi xuất hiện nhiều nhất là 60 tuổi. Người bệnh có trình độ trung học cơ sở chiếm 45%. Bảng 2. Một số hướng dẫn và nguồn thông tin mà người bệnh đã nhận đượcNội dung SL %Hướng dẫnSử dụng thuốc 120 100Chế độ ăn 102 85,0Lối sống 45 37,5Tự theo dõi và xử lý khi xuất hiện biểu hiện của bệnh 13 10,8Hành vi phòng ngừa 0 0,0Nguồn thông tinNhân viên y tế 120 100Gia đình, bạn bè 51 42,5Tivi, internet 41 34,2Sách, báo, tờ rơi 19 15,8 73Khoa học Điều dưỡng - Tập 04 - Số 03NGHIÊN CỨU KHOA HỌCNhận xét 13 người được hướng dẫn về cách tự theo dõi biểu hiện bệnh và biện pháp xử lý phù hợp khi bệnh diễn biến và đặc biệt không có người bệnh nào nhận được những hướng dẫn về hành vi phòng ngừa trong suy tim. Nguồn tin từ nhân viên y tế chiếm tỷ lệ cao nhất 100%. Thực trạng kiến thức và thực hành tự chăm sóc của người bệnh suy tim Kết quả nghiên cứu chung dựa trên điểm đánh giá kiến thức và thực hànhBảng 3. Điểm kiến thức và thực hành của người bệnh về tự chăm sócNội dungĐiểm đạtThấp nhấtCao nhấtTrung bìnhĐộ lệch chuẩn Kiến thức 6 16 11,1 2,1Thực hànhDuy trì chăm sóc 13,3 83,3 43,3 16,2Quản lý chăm sóc 10,0 85,0 49,3 19,7Sự tự tin 16,6 88,9 51,0 19,5Nhận xét Kiến thức và thực hành tự chăm sóc của người bệnh còn hạn chế Kiến thức điểm trung bình kiến thức đạt 11,1 ± 2,1 điểm; điểm trung bình thực hành duy trì chăm sóc là 43,3 ± 16,2 điểm, điểm trung bình quản lý chăm sóc là 49,3 ± 19,7 điểm, điểm trung bình sự tự tin là 51,0 ± 19,5 Kết quả nghiên cứu dựa trên phân loại kiến thức và thực hànhBiểu đồ 1. Phân loại kiến thức tự chăm sóc Nhận xét Có 60,0% người bệnh suy tim mạn có kiến thức về tự chăm sóc ở mức trung bình và 40,0% người bệnh có kiến thức ở mức khá. 74 Khoa học Điều dưỡng - Tập 04 - Số 03NGHIÊN CỨU KHOA HỌCBiểu đồ 2. Phân loại thực hành tự chăm sóc Nhận xét Có 19,2% người bệnh đạt duy trì chăm sóc; 22,5% người bệnh đạt quản lý chăm sóc và 17,5% người bệnh đạt lĩnh vực tự tin trong tự chăm sóc. Kết quả nghiên cứu dựa trên các nội dung kiến thứcBảng 4. Kiến thức về bệnh suy tim của người bệnh n = 120Nội dung Lựa chọn SL %Kiến thức về sử dụng thuốcTác dụng thuốc lợi 70 58,3Sai 50 41,7Khi sử dụng thuốc lợi tiểu cần bổ sung thêm 63 52,5Sai 57 47,5NB quên uống thuốc, cần uống ngay khi nhớ 31 25,8Sai 89 74,2Kiến thức về theo dõi cân nặngKiến thức về tăng cân nặng Đúng 69 57,5Sai 51 42,5Tự theo dõi cân nặng hàng ngàyĐúng 47 39,2Sai 73 60,8Thời gian tốt nhất để cân là vào buổi 36 30,0Sai 84 70,019,2% 22,5% 17,5%020406080100Đạt duy trì chăm sóc Đạt quản lý chăm sóc Đạt tự tin 75Khoa học Điều dưỡng - Tập 04 - Số 03NGHIÊN CỨU KHOA HỌCNội dung Lựa chọn SL %Kiến thức về chế độ ăn hạn chế muốiPhân loại thức ăn có chứa nhiều 38 31,7Sai 82 68,3Phân loại thực phẩm có chứa ít muối 65 54,2Sai 55 45,8Kiến thức về chế độ ăn hạn chế chất lngPhân loại chất lngĐúng 41 34,2Sai 79 65,8Khi cần hạn chế chất lng, người bệnh có thể nhai kẹo cao su hoặc ngậm kẹo cứngĐúng 5 4,2Sai 115 95,8Kiến thức về hành vi phòng ngừa Phòng ngừa các bệnhĐúng 18 15,0Sai 102 85,0Nhận xét Có 25,8% người bệnh có kiến thức đúng khi người bệnh suy tim quên uống thuốc cần uống thuốc ngay khi nhớ ra. Người bệnh có kiến thức đúng về loại thức ăn có chứa nhiều muối chỉ đạt ở mức thấp 31,7%. Kiến thức đúng về phân loại chất lng chỉ đạt 34,2%. Nhận thức đúng khi cần hạn chế chất lng, người bệnh có thể nhai kẹo cao su hoặc ngậm kẹo cứng chiếm 4,2%.Tỷ lệ thấp đạt 15% người bệnh có kiến thức đúng về phòng ngừa các bệnh. Bảng 5. Kiến thức đúng về một số hoạt động tự điều trị của người bệnh n = 120Nội dung SL %Hạn chế ăn muối 109 90,8Hạn chế uống nhiều nước 38 31,7Không hút thuốc lá 102 85,0Không uống rượu bia hàng ngày 89 74,2Không b thuốc suy tim khi thấy bệnh khoẻ hơn 64 53,3Biết khi nào nên gọi NVYT hoặc đi khám bệnh khi có triệu chứng suy tim 114 95,0Nhận xét Có 31,7% người bệnh có kiến thức đúng về “Hạn chế uống nhiều nước”, tỷ lệ người bệnh có kiến thức đúng về “Không b thuốc suy tim khi thấy bệnh khe hơn” cũng chỉ chiếm 53,3%. 76 Khoa học Điều dưỡng - Tập 04 - Số 03NGHIÊN CỨU KHOA Kết quả nghiên cứu dựa trên các nội dung thực hànhBảng 6. Kết quả thực hành Duy trì tự chăm sóc Duy trì chăm sóc Lựa chọn SL %Theo dõi cân nặngKhông hoặc hiếm khi 62 51,7Thỉnh thoảng 33 27,5Thường xuyên 23 19,2Hàng ngày 21,7Theo dõi phù chânKhông hoặc hiếm khi 59 49,2Thỉnh thoảng 32 26,7Thường xuyên 17 14,2Hàng ngày 12 10,0Dự phòng bệnhKhông hoặc hiếm khi 47 39,2Thỉnh thoảng 41 34,2Thường xuyên 25 20,8Luôn luôn 7 5,8Chế độ ăn giảm muốiKhông hoặc hiếm khi 24 20,0Thỉnh thoảng 42 35,0Thường xuyên 36 30,0Hàng ngày 18 15,0Quên uống 1 thuốc trong trong đơn thuốc hàng ngàyKhông hoặc hiếm khi 20 16,7Thỉnh thoảng 68 56,7Thường xuyên 31 25,8Hàng ngày 10,8Nhận xét 51,7% người bệnh không hoặc hiếm khi theo dõi cân nặng; người bệnh không hoặc hiếm khi theo dõi phù là 49,2%; hoạt động dự phòng, mức độ không hoặc hiếm khi là 39,2%; tần xuất thực hiện ăn giảm muối mức độ hàng ngày là 15,0%; người bệnh quên uống 1 thuốc trong trong đơn thuốc hàng ngày 0,8%. 77Khoa học Điều dưỡng - Tập 04 - Số 03NGHIÊN CỨU KHOA HỌCBiểu đồ 3. Thực hành “Quản lý chăm sóc” Nhận xét Thực hành trong việc nhận ra nhanh chóng các dấu hiệu của bệnh suy tim có 26,6% người bệnh. Có thực hiện ăn giảm muối và giảm lượng nước uống vào khi phù/khó thở là 24,1% và 28,3%.0102030405060708090100Tự giữ gìn để suy tim không nặngĐiều trị theo đơnTự đánh giá mức độ biểu hiện bệnhTự nhận ra thay đổi sức khoẻTự áp dụng các biện pháp để giảm triệu Tự đánh giá hiệu quả biện pháp áp dụngBiểu đồ 4. Mức độ tự tin trong tự chăm sóc Nhận xét Người bệnh “Tự tin” trong việc tự giữ giữ gìn để suy tim không nặng lên là 56,6%; “Tự tin” trong việc đánh giá mức độ biểu hiện suy tim là 45,8%; “Tự tin” trong việc nhận ra các thay đổi về sức khe là 28,3%.54,2%25,8%0102030405060708090100Nhận ra nhanh chóng biểu hiện bệnhCó thực hiện ăn giảm muối khi phù/khó thởCó thực hiện giảm lượng nước uống vào khi phù/khó thởCó thự hiện và thường xuyên thực hiện đi khám/gọi bác sĩ khi phù/khó thởChắc chắn và rất chắc chắn các biện pháp trên cải thiện phù/khó thở 78 Khoa học Điều dưỡng - Tập 04 - Số 03NGHIÊN CỨU KHOA HỌC4. BÀN Thông tin chung của đối tượng nghiên Về tuổi Người bệnh có tuổi trung bình là 65,4 ± 12,61 tuổi, người bệnh ít tuổi nhất là 22 tuổi và người bệnh nhiều tuổi nhất là 88 tuổi; tỷ lệ người cao tuổi chiếm tỷ lệ cao 73,3%. Kết quả nghiên cứu này tương tự với kết quả nghiên cứu của Trần Thị Ngọc Anh 2016 [8] với độ tuổi trung bình trong nhóm nghiên cứu là 61,2 ± 14,9 tuổi, người ít tuổi nhất là 23 tuổi và cao tuổi nhất là 89 Về trình độ học vấnTrong nghiên cứu này, người bệnh có trình độ trung học cơ sở chiếm tỷ lệ cao nhất 45%; trình độ đại học chiếm tỷ lệ thấp nhất 14,2%. Như vậy, suy tim có mặt ở tất cả các trình độ học vấn. Điều này có điểm chung với nghiên cứu của Trần Thị Ngọc Anh 2016 [8], Phạm Thị Hồng Nhung 2019 [9] với người bệnh có trình độ trung học cơ sở chiếm tỷ lệ cao nhất lần lượt 41,0% và 51,1%. Thông tin về việc người bệnh nhận được một số hướng dẫn về tự chăm sócTrong nghiên cứu của chúng tôi, tất cả 120 người bệnh trước đó từng nằm viện điều trị suy tim đều cho biết họ đã nhận được một số hướng dẫn nhất định về điều trị và chăm sóc suy tim. Tuy nhiên, rất ít 10,8% người bệnh được hướng dẫn về cách tự theo dõi biểu hiện bệnh và biện pháp xử lý phù hợp khi bệnh diễn biến. Đặc biệt không có người bệnh nào nhận được những hướng dẫn về hành vi phòng ngừa trong suy tim. Qua nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy phần lớn người bệnh mong muốn được biết các thông tin về điều trị và chăm sóc sau điều trị như điều trị bằng thuốc, chế độ ăn uống, biến chứng... Đặc biệt hành vi phòng ngừa chưa được người bệnh đánh giá đúng tầm quan trọng trong điều trị bệnh. Thực trạng kiến thức và thực hành tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn Thực trạng kiến thức tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạnKiến thức chungKiến thức chung của người bệnh suy tim mạn còn hạn chế với điểm trung bình đạt 11,1 ± 2,13 điểm, điểm thấp nhất 6, điểm cao nhất 16. Trong đó có 60,0% người bệnh suy tim mạn có kiến thức về tự chăm sóc ở mức trung bình và 40,0% người bệnh có kiến thức ở mức khá, không có người bệnh nào có kiến thức ở mức kém và tốt. Nghiên cứu của chúng tôi có điểm tương đồng với nghiên cứu Phạm Thị Hồng Nhung [9], kiến thức chung của người bệnh cũng chỉ đạt 10,41 ± 3,54 điểm trên tổng số 22 điểm. Mặc dù nhiều người bệnh trong nghiên cứu của chúng tôi hay trong nghiên cứu Phạm Thị Hồng Nhung cũng đã nhận được một số hướng dẫn nhất định về tự chăm sóc nhưng chưa được đầy đủ, điều này có thể do người bệnh quên và có thể do các hướng dẫn trước đây chưa thường quy chưa hệ thống hoặc phương pháp hướng dẫn còn chưa phù thức tự chăm sóc của người bệnh dựa trên các nội dung cụ thể- Kiến thức về sử dụng thuốc Người bệnh có kiến thức đúng về thuốc và sử dụng chưa cao. Cụ thể là chỉ có 58,3% người bệnh hiểu đúng về tác dụng của thuốc lợi tiểu, 52,5% người bệnh hiểu đúng về việc khi sử dụng thuốc lợi tiểu phải bồ sung thêm Kali. Nghiên cứu Phạm Thị Hồng 79Khoa học Điều dưỡng - Tập 04 - Số 03NGHIÊN CỨU KHOA HỌCNhung [9] có 37,8% người bệnh hiểu đúng về tác dụng của thuốc lợi tiểu, 20% người bệnh hiểu đúng về việc khi sử dụng thuốc lợi tiểu phải bổ sung thêm Kali. Ở nghiên cứu của Trần Thị Ngọc Anh [8] thì tỷ lệ này là 27,5% người bệnh hiểu đúng về việc khi sử dụng thuốc lợi tiểu phải bổ sung thêm Kali. Như vậy thực trạng kiến thức sử dụng thuốc trong nghiên cứu của chúng tôi khả quan hơn so với 2 nghiên cứu trên. Tuy nhiên, tỷ lệ hiểu biết về tác dụng của thuốc lợi tiểu của nghiên cứu Wal và cộng sự [11] thì cao hơn nghiên cứu của chúng tôi rất nhiều 84% [6].- Kiến thức về theo dõi cân nặng Người bệnh có nhận thức đúng về tăng cân nặng cơ thể chiếm tỷ lệ thấp chỉ đạt 57,5%, người bệnh có nhận thức đúng tự theo dõi cân nặng hàng ngày chiếm 39,2% và người bệnh có nhận thức đúng về thời gian tốt nhất để cân vào buổi sáng chỉ chiếm 30,0%. Cùng với vấn đề này ở nghiên cứu Phạm Thị Hồng Nhung [9] lần lượt là 33,3%; 15,6%; 41,1%. Nghiên cứu Trần Thị Ngọc Anh [8] với 19% người bệnh có kiến thức đúng về tự theo dõi cân nặng và 46 % người bệnh có kiến thức đúng về thời gian tốt nhất để cân là vào buổi sáng. Kết quả 3 nghiên cứu này cho thấy kiến thức về theo dõi cân nặng còn thấp nhìn chung chưa vượt quá 50% cho thấy việc tư vấn GDSK về theo dõi cân nặng ở Việt Nam chưa được thật sự chú trọng. Người bệnh chưa được hiểu rõ về lý do phải theo dõi cân nặng hàng ngày, chưa được hướng dẫn cách theo dõi cân nặng đúng Kiến thức về chế độ ăn hạn chế muối Kiến thức về chế độ ăn giảm muối của người bệnh trong nghiên cứu của chúng tôi còn chưa tốt. Cụ thể là người bệnh có kiến thức đúng về loại thức ăn có chứa nhiều muối và loại thực phẩm có chứa ít muối nhất chiếm 31,7%; 54,2%. Kết quả này thấp hơn nghiên cứu của Trần Thị Ngọc Anh [8] với 2 tỷ lệ trên 52,5%; 88,5%. Lý giải cho sự khác biệt giữa hai nghiên cứu này có thể là do cỡ mẫu khác nhau 120 - 200, địa điểm nghiên cứu khác nhau và trình độ học vấn của người bệnh khác nhau trong 2 nghiên cứu. - Kiến thức về hạn chế chất lỏng Kiến thức về hạn chế chất lng của người bệnh trong nghiên cứu này còn chưa tốt. Có trên 50% người bệnh chưa có kiến thức đúng về phân biệt chất lng và hầu hết người bệnh 95,8% không biết kiến thức về “người bệnh suy tim đang phải cố gắng giới hạn lượng chất lng đưa vào, để giảm cơn khát nước người bệnh có thể nhai kẹo cao su hoặc ngậm kẹo cứng”. Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Trần Thị Ngọc Anh [8] với kết quả lần lượt hai vấn đề trên là 47,5%; 96% và Phạm Thị Hồng Nhung [9] với tỷ lệ 34,4%; 66,7%. Như vậy qua kết quả 3 nghiên cứu tại địa dư Quảng Ninh, Hà Nội, Nam Định chúng tôi thấy được thực trạng chung của người bệnh suy tim về kiến thức hạn chế chất lng là rất Kiến thức đúng về một số hoạt động tự điều trị Kết quả nghiên cứu cho thấy, hầu hết người bệnh có kiến thức về một số hoạt động tự điều trị đạt mức tốt. Cụ thể có 90,8% người bệnh có kiến thức đúng về “Hạn chế ăn muối”. Tuy nhiên, chỉ có 31,7% người bệnh có kiến thức đúng về “Hạn chế uống nhiều nước” và 53,3% người bệnh có kiến thức đúng về “không b thuốc suy tim khi thấy bệnh khe hơn”. Kết quả chưa tốt này có thể do nhận thức về phân loại chất lng với 65,8% người bệnh không phân biệt được chất lng và 74,2% người bệnh không hiểu đúng về việc quên uống thuốc cần uống ngay khi nhớ ra bảng 4. Ngoài ra, kết quả này cũng tương tự với 80 Khoa học Điều dưỡng - Tập 04 - Số 03NGHIÊN CỨU KHOA HỌCnghiên cứu của Trần Thị Ngọc Anh [8] với 93,5% người bệnh cố kiến thức đúng về “hạn chế muối trong chế độ ăn” và chỉ có 40,5% người bệnh có kiến thức đúng về “hạn chế uống nhiều nước”. Thực trạng thực hành tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạnThực hành tự chăm sóc Điểm trung bình của 3 lĩnh vực trong tự chăm sóc còn thấp. Điểm trung bình duy trì chăm sóc, quản lý chăm sóc, sự tự tin lần lượt là 43,3 ± 16,2; 49,3 ± 19,7; 51,0 ± 19,5 điểm. Trong đó chỉ có 19,2% người bệnh đạt duy trì chăm sóc; 22,5% đạt quản lý chăm sóc và 17,5% người bệnh đạt tự tin trong tự chăm sóc. Trong nghiên cứu của chúng tôi có điểm tương đồng với nghiên cứu Phạm Thị Hồng Nhung [9] điểm trung bình cho ba lĩnh vực trên lần lượt là 41,5 ± 20,5; 35,5 ± 15,2; 50,4 ± 16,1. Mặc dù nhiều người bệnh trong nghiên cứu của chúng tôi hay trong nghiên cứu Phạm Thị Hồng Nhung cũng đã ý thức thực hiện tự theo dõi và tự xử trí các triệu trứng bệnh nhưng chưa tốt. Do đó, cần thiết phải có biện pháp thay đổi hành vi tự chăm sóc mục đích cải thiện sức khoẻ qua đó giảm tái nhập viện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Thực hành duy trì chăm sóc - Hành vi tự theo dõi cân nặng Thực hành của người bệnh về tự theo dõi cân nặng chưa tốt với trên một nửa số người bệnh 51,7% không hoặc hiếm khi theo dõi cân nặng và chỉ có 02 người bệnh 1,7% theo dõi cân nặng hàng ngày. Theo nghiên cứu của WalMH và cộng sự [11] có tới 35,0% người bệnh theo dõi cân nặng hàng ngày. Lý giải cho sự khác biệt này có lẽ do người dân Việt Nam nói chung và người bệnh suy tim mạn ở Việt Nam nói riêng đều ít khi theo dõi cân nặng của Hành vi theo dõi phù chân Có 49,2% người bệnh không hoặc hiếm khi theo dõi phù chân. Có 10,0% người bệnh thực hiện theo dõi phù hàng ngày, tỷ lệ này cho thấy sự tương ứng giữa thông tin người bệnh nhận được khi nằm viện về tự theo dõi và xử lý khi xuất hiện biểu hiện của bệnh chỉ có 10,8% bảng 2. - Hành vi ăn giảm muối Tỷ lệ người bệnh thỉnh thoảng và hiếm khi ăn giảm muối là 55% cao hơn trong nghiên cứu của Kiều Thị Thu Hằng [12] nghiên có kết quả 43% người bệnh không thực hiện đúng về chế độ ăn giảm muối. Sự khác biệt này được lý giải có thể do điều kiện, môi trường sống của người bệnh trong nghiên cứu của chúng tôi sống tại khu vực vùng biển nên đảm bảo duy trì thường xuyên hành vi ăn nhạt tương đối là khó Hành vi quên uống một thuốc trong đơn thuốc hàng ngày Có ít người bệnh 16,7% không hoặc hiếm khi quên uống thuốc, thậm chí có đến hơn một nửa số người bệnh 56,7% thỉnh thoảng quên uống thuốc. Lý giải cho điều này, nghiên cứa định tính về “Những khó khăn trong tự chăm sóc người bệnh suy tim tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định” của tác giả Phạm Thị Thu Hương [13] đã chỉ ra rằng việc uống thuốc cũng gây khó khăn cho người bệnh. Do tác dụng của thuốc lợi tiểu “đêm dậy đi tiểu chục lần”, cũng ảnh hưởng đến giấc ngủ của người bệnh rồi có người bệnh “về nhà không uống thuốc nữa’’ hoặc “sau khi ra viện, uống hết đơn thấy bình thường thì thôi”. Thực hành quản lý chăm sóc việc nhận ra nhanh chóng các dấu hiệu của bệnh suy tim có 26,6% người bệnh. Có thực hiện ăn giảm muối và giảm lượng nước uống vào khi phù/khó thở là 24,1% và 28,3%. Người bệnh đánh giá thực hiện các 81Khoa học Điều dưỡng - Tập 04 - Số 03NGHIÊN CỨU KHOA HỌCbiện pháp quản lý tự chăm sóc chắc chắn và rất chắc chắn hiệu quả giúp cải thiện tình trạng phù, khó thở là 25,8%. Như vậy có ít người bệnh 26,6% nhận ra nhanh chóng biểu hiện phù/khó thở là biểu hiện của bệnh suy tim. Lý giải cho điều này chúng tôi dựa theo nghiên cứu định tính của Phạm Thị Thu Hương cũng có những người bệnh không thể nhận ra các triệu chứng dù đã bị bệnh nhiều năm, người bệnh nhầm lẫn với bệnh thận, đi khám mới biết là tim thậm chí có người bệnh cho rằng dấu hiệu nặng mặt là do ngủ nhiều [13]. Mặt khác có thể do người bệnh thỉnh thoảng hoặc không duy trì hành vi theo dõi phù bảng 6 45,9% nên khi có triệu chứng xuất hiện ít có kinh nghiệm phát hiện nhanh. Về sự tự tin người bệnh tự tin trong tự giữ gìn để suy tim không nặng là 56,6%; người bệnh tự tin trong việc nhận ra thay đổi sức khe là 28,3%. Như vậy sự tự tin của người bệnh ở nghiên cứu còn thấp. Lý giải điều này cho nghiên cứu của chúng tôi có thể do thông tin kiến thức, thực hành tự chăm sóc của người bệnh đã được tiếp cận nhưng chưa được đồng nhất từ gia đình, nguồn báo chí và nguồn ti vi, internet với tỷ lệ lần lượt là 42,5%; 34,2% và 15,8 % Bảng 2; việc tự theo dõi và xử trí khi xuất hiện triệu chứng bệnh chỉ có 10,8% người bệnh được hướng dẫn. Vì vậy, người bệnh chưa đủ tự tin để thực hành tự chăm sóc bản thân một cách ưu việt KẾT LUẬNKết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ người bệnh có kiến thức và thực hành tự chăm sóc còn thấp. Về kiến thức tỷ lệ khá là 40%, trung bình là 60%. Bên cạnh đó, chỉ có 10,8% người bệnh được hướng dẫn về cách tự theo dõi biểu hiện bệnh và biện pháp xử lý phù hợp khi bệnh diễn biến. Đặc biệt không có người bệnh nào nhận được những hướng dẫn về hành vi phòng ngừa trong suy tim. Về thực hành chỉ có 19,2% người bệnh đạt duy trì chăm sóc; 22,5% đạt quản lý chăm sóc và 17,5% người bệnh đạt tự tin trong tự chăm sóc. Do đó, các chương trình GDSK cần chú trọng hướng tới giáo dục về cách tự theo dõi bệnh, cung cấp kiến thức và hướng dẫn thực hành các biện pháp xử trí đối với mỗi tình huống diễn biến bệnh tại nhà hoặc cộng đồng trước khi đến cơ sở y tế hoặc nhận được sự trợ giúp của nhân viên y tế. Việc cung cấp giáo dục sức khe cho người bệnh cần được thực hiện hệ thống, định kì khoảng 2-3 tháng/lần nhằm củng cố nhắc lại và bổ sung kiến thức, hướng dẫn thực hành mới về tự chăm sóc cho người LIỆU THAM KHẢO1. Bộ Y Tế Việt Nam 2020, Quyết định số 1762/QĐ-BYT ngày 17 tháng 4 năm 2020 của Bộ Y tế về việc ban hành tài liệu chuyên môn Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị suy tim mạn tính, truy cập ngày 08/7/ Ponikowski P, Anker S. D, AlHabib K. F et al 2014. Heart failure preventing disease and death worlwide. ESC Heart Fail, 11, p. Phạm Nguyễn Vinh và các cộng sự 2008. Khuyến cáo 2008 về các bệnh lý tim mạch và chuyển hóa, Khuyến cáo 2008 của Hội tim mạch học Việt Nam về chẩn đoán, điều trị suy tim, Nhà xuất bản y học, thành phố Hồ Chí Minh, Ross J. S, Chen J, Lin Z. Q et al 2009. Recent National Trends in Readmission Rates after Heart Failure Hospitalization. Circulation Heart Failure, 31, pp. 97-103. 82 Khoa học Điều dưỡng - Tập 04 - Số 03NGHIÊN CỨU KHOA HỌC5. Lam C. S. P 2015. Heart failure in Southeast Asia facts and numbers. ESC Heart Fail, 22, pp. Spies C. D, Sander M, Stangl K et al 2001. Effects of alcohol on the heart Current Opinion in Critical Care, 7, pp. Nguyễn Thị Hồng Hải 2017. Thực trạng hành vi tự chăm sóc ở người cao tuổi suy tim đang được điều trị tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba - Đồng Hới - Quảng Bình, Luận văn thạc sỹ Điều dưỡng, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Trần Thị Ngọc Anh 2016. Kiến thức và thực hành tự chăm sóc ở nhà của người bệnh suy tim mạn tính tại viện Tim Mạch Việt Nam, Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Phạm Thị Hồng Nhung 2019. Đánh giá thay đổi kiến thức và thực hành tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn tại khoa Nội Tim mạch Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2018. Tạp chí Khoa học Điều dưỡng, 2, tr. Ông Thị Mai Thương 2016. Thực trạng tiếp cận dịch vụ y tế của hộ nghèo ở thành thị. Tạp chí Khoa học – Công nghệ Nghệ An, 9, – Wal M. H. L. V. D, Jaarsma T, Moser D. K et al 2006. Compliance in heart failure patients the importance of knowledge and beliefs. Eur Heart J, 274, pp. Kiều Thị Thu Hằng 2011. Bước đầu ứng dụng thang điểm SCHFI đánh giá vấn đề tự chăm sóc của bệnh nhân suy tim được điều trị tại viện Tim mạch Việt Nam, Cử nhân y khoa, Trường Đại học y Hà Phạm Thị Thu Hương và các cộng sự 2018. Những khó khăn trong tự chăm sóc ở người bệnh suy tim tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định. Tạp chí khoa học Điều dưỡng, 01 01, tr. 53-60. ResearchGate has not been able to resolve any citations for this LamSoutheast Asia is home to a growing population of >600 million people, the majority younger than 65 years, but among whom, rapid epidemiological transition has led to high rates of premature death from non-communicable diseases chiefly cardiovascular disease up to 28% in the Philippines vs. 12% in UK. There is a strikingly high prevalence of stage A heart failure HF risk factors in Southeast Asia, particularly hypertension >24% in Cambodia and Laos vs. 13–15% in UK and USA, tobacco smoking >36% in Indonesia, physical inactivity >50% in Malaysia and raised blood glucose 10–11% in Brunei, Malaysia, Singapore and Thailand in spite of a low prevalence of overweight/obesity 21–26% in Southeast Asia vs. 67–70% in UK and USA. Accordingly, the prevalence of symptomatic HF appears to be higher in Southeast Asian countries compared with the rest of the world. Epidemiologic trends in Singapore showed a sharp 38% increase in age-adjusted HF hospitalizations from per 10 000 in 1991 to per 10 000 in 1998 with notable ethnic differences hospitalization rates ~35% higher in Malays and Indians vs. Chinese; mortality times higher in Malays vs. Indians and Chinese. Furthermore, Southeast Asian patients present with acute HF at a younger age 54 years compared with USA patients 75 years but have more severe clinical features, higher rates of mechanical ventilation, longer lengths of stay 6 vs. days and higher in-hospital mortality vs. Finally, there is under-usage of guideline-recommended HF medical therapies prescribed in 31–63% of patients upon discharge and device therapies in Southeast Asia. Large gaps in knowledge that need to be addressed in Southeast Asia include the prevalence of HF with preserved ejection fraction, clinical outcomes, barriers to recommended therapies and their cost-effectiveness, as well as possible ethnicity-specific pathophysiologic evidence suggests that light to moderate alcohol consumption protects against cardiovascular diseases. However, this cardioprotective effect of alcohol consumption in adults is absent at the population level. Approximately 20 to 30% of patients admitted to a hospital are alcohol abusers. In medical practice, it is essential that patients' levels of consumption are known because of the many adverse effects that might result in the course of routine care. Ethanol damage to the heart is evident if alcohol consumption exceeds 90 to 100 g/d. Heavy ethanol consumption leads to increased risk for sudden cardiac death and cardiac arrhythmias. In patients with coronary heart disease, alcohol use was associated with increased mortality. An early response to drinking was an increased ventricular wall thickness to diameter ratio, possibly proceeding with continuous drinking to alcoholic cardiomyopathy, which had a worse outcome compared with idiopathic dilative cardiomyopathy if drinking was not stopped or at least reduced < 60 g/d. In the ICU, patients with chronic alcoholism have more cardiac complications postoperatively. These complications probably are caused by biventricular dysfunction, particularly with the occurrence of severe infections or septic shock, events that are three to four times more frequent among chronic alcoholics than occasional drinkers or nondrinkers. To prevent further complications from drinking and for long-term management of drinking, patients with alcohol abuse and heart failure should be treated in brief intervention and follow-up programs. Prognosis is good even in patients with New York Heart Association class IV heart failure caused by cardiomyopathy if complete abstinence is accomplished. Noncompliance to smoking and alcohol restrictions, which are amenable to change, dramatically increases the risk for hospital readmissions among patients with heart failure preventing disease and death worlwideK. F et al 2014. Heart failure preventing disease and death worlwide. ESC Heart Fail, 11, p. trạng hành vi tự chăm sóc ở người cao tuổi suy tim đang được điều trị tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba -Đồng Hới -Quảng BìnhNguyễn Thị Hồng HảiNguyễn Thị Hồng Hải 2017. Thực trạng hành vi tự chăm sóc ở người cao tuổi suy tim đang được điều trị tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba -Đồng Hới -Quảng Bình, Luận văn thạc sỹ Điều dưỡng, Trường Đại học Điều dưỡng Nam đầu ứng dụng thang điểm SCHFI đánh giá vấn đề tự chăm sóc của bệnh nhân suy tim được điều trị tại viện Tim mạch Việt Nam, Cử nhân y khoaM H L V D WalT JaarsmaD MoserWal M. H. L. V. D, Jaarsma T, Moser D. K et al 2006. Compliance in heart failure patients the importance of knowledge and beliefs. Eur Heart J, 274, pp. 434-440. 12. Kiều Thị Thu Hằng 2011. Bước đầu ứng dụng thang điểm SCHFI đánh giá vấn đề tự chăm sóc của bệnh nhân suy tim được điều trị tại viện Tim mạch Việt Nam, Cử nhân y khoa, Trường Đại học y Hà Nội. 13. Phạm Thị Thu Hương và các cộng sự 2018. Những khó khăn trong tự chăm sóc ở người bệnh suy tim tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định. Tạp chí khoa học Điều dưỡng, 01 01, tr. 53-60.
Suy tim là một trong những bệnh mạn tính nặng thường gặp nhất, khó có thể chữa khỏi hoàn toàn, nhưng nếu người bệnh suy tim có được chương trình chăm sóc hợp lý, bao gồm duy trì lối sống khoa học, lành mạnh và tuân thủ đúng hướng dẫn điều trị, người bệnh vẫn có thể kiểm soát bệnh tốt, cải thiện chất lượng cuộc sống, giảm tỷ lệ nhập viện lại và kéo dài tuổi thọ. ThS-BS. Phạm Thị Ngọc Đan khám cho người bệnh Khoa Nội Tim mạch Bệnh viện Đại học Y Dược BV ĐHYD đã tiếp nhận điều trị cho người bệnh 64 tuổi, ngụ tại Bà L. bị suy tim nhiều năm nay, thời gian đầu sau khi phát hiện bệnh, bà thực hiện đúng chỉ dẫn của bác sĩ về chế độ ăn uống, sinh hoạt, sử dụng thuốc và tái khám định kỳ, tình trạng suy tim ổn định, người bệnh khỏe hơn vả cải thiện khả năng gắng sức. Tuy nhiên vì chủ quan, bà L. không tuân thủ chế độ ăn, vận động, thuốc, không theo dõi các triệu chứng của bệnh theo chỉ định của bác sĩ và cũng không tái khám định kỳ. Sau một thời gian, bà L. khó thở và phù toàn thân ngày càng tăng. Bà L. đến khám và phải nhập viện tại Khoa Nội Tim mạch BV ĐHYD Tại đây, các bác sĩ đánh giá và hướng dẫn lại người bệnh việc tuân thủ điều trị, thay đổi lối sống, cách theo dõi tại nhà... Người bệnh được tư vấn tham gia chương trình “Quản lý và điều trị người bệnh suy tim”, duy trì việc điều trị cùng chế độ ăn uống, sinh hoạt phù hợp và được theo dõi chặt chẽ. Hiện nay, người bệnh vẫn đang tham gia chương trình này và tình trạng suy tim được kiểm soát ổn định. Sai lầm thường gặp ở người bệnh suy tim Theo TS-BS. Bùi Thế Dũng, Trưởng khoa Nội tim mạch BV ĐHYD suy tim là hội chứng đặc trưng bởi các triệu chứng điển hình như khó thở, mệt mỏi, phù chân… do tim không đủ khả năng bơm để cung cấp máu đảm bảo cho các nhu cầu hoạt động của cơ thể. Đây là căn bệnh mạn tính nguy hiểm bởi tiềm ẩn nhiều biến chứng có thể đe dọa tính mạng. Người bệnh suy tim có thể bị phù phổi cấp, tổn thương đa cơ quan gan, thận..., đột quỵ, nhồi máu cơ tim hoặc đột tử. Suy tim là một gánh nặng y tế do tỷ lệ mắc bệnh cao và xu hướng ngày càng gia tăng. Ở Việt Nam, hiện ước tính có khoảng 1,6 triệu người bị suy tim. Số người bệnh nhập viện do suy tim khoảng trường hợp mỗi năm. Ngày nay suy tim vẫn là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tái nhập viện cao, mặc dù đã có nhiều phương pháp điều trị có thể giúp giảm triệu chứng, cải thiện tình trạng tái nhập viện - tử vong vì suy tim. Vì vậy người bệnh suy tim bị ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống, tâm lý người bệnh - người nhà và gia tăng tổng chi phí chăm sóc người bệnh. ThS-BS. Phạm Ngọc Đan, Khoa Nội Tim mạch BV ĐHYD cho biết, trên thực tế nhiều người bệnh thường chỉ tuân thủ điều trị trong thời gian đầu, sau khi tình trạng sức khỏe ổn định hơn lại có tâm lý chủ quan hoặc tin theo những thông tin không chính xác, từ đó dẫn đến nhiều sai lầm trong cách tự chăm sóc như Không sử dụng thuốc đều đặn, không tái khám định kỳ, thậm chí tự ý sử dụng các loại thuốc không theo chỉ dẫn của bác sĩ, không tuân thủ chế độ dinh dưỡng, vận động… Điều này dẫn đến tình trạng suy tim diễn tiến nặng phải nhập viện, tăng tử vong cũng như ảnh hưởng các cơ quan khác như suy gan, suy thận... TS-BS. Bùi Thế Dũng khám cho người bệnh Chăm sóc và điều trị người bệnh suy tim đúng cách Tại BV ĐHYD có khoảng hơn lượt người bệnh khám theo dõi và điều trị suy tim mỗi năm. Trong đó hơn 300 lượt người bệnh nhập viện vì đợt mất bù cấp của suy tim. Để giảm tỷ lệ tái nhập viện, tỷ lệ tử vong cũng như cải thiện chất lượng cuộc sống, việc người bệnh kiên trì tuân thủ điều trị, biết cách tự chăm sóc bản thân, thay đổi lối sống và luyện tập phù hợp, nhận biết được các dấu hiệu suy tim diễn tiến nặng là những yếu tố quan trọng nhất. TS-BS. Bùi Thế Dũng cho biết, để đạt được hiệu quả điều trị, người bệnh cần phối hợp 3 yếu tố chính đó là sử dụng thuốc đều đặn, thực hiện chế độ dinh dưỡng và chế độ luyện tập theo đúng chỉ định của bác sĩ. Tại Khoa Nội tim mạch BV ĐHYD chương trình “Quản lý và điều trị người bệnh suy tim” được áp dụng thường quy đã giúp giảm đáng kể triệu chứng suy tim, cải thiện chất lượng cuộc sống, giảm biến chứng bệnh, giảm tỷ lệ nhập viện, tỷ lệ tử vong và chi phí điều trị. Người bệnh điều trị suy tim tại BV ĐHYD được hướng dẫn và theo dõi sát việc tuân thủ điều trị cũng như chế độ ăn uống, sinh hoạt và tập luyện. Theo ThS-BS. Phạm Ngọc Đan, những sai lầm trong việc chăm sóc người bệnh suy tim là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng bệnh diễn tiến nặng. Vì vậy, người bệnh nên tuân thủ hướng dẫn, chỉ định của bác sĩ, chủ động trang bị kiến thức từ các nguồn thông tin chính thống và nên tham gia các chương trình quản lý người bệnh suy tim để đạt mục tiêu điều trị, tránh mắc các sai lầm không đáng có. Người bệnh nên duy trì chế độ dinh dưỡng, tập luyện thể lực, dùng thuốc đều đặn theo đúng chỉ dẫn của bác sĩ. Nên biết cách theo dõi các dấu hiệu bệnh diễn tiến tại nhà, tái khám đúng hẹn hoặc hỏi ý kiến bác sĩ ngay khi có thắc mắc về tình trạng sức khỏe của mình. Bên cạnh đó, ngay khi có các dấu hiệu bất thường, người bệnh nên đến cơ sở y tế để được khám và điều trị kịp thời, tránh tình trạng bệnh diễn tiến nặng gây nhiều hậu quả nguy hiểm và tử vong. Nhằm nâng cao kiến thức của cộng đồng trong việc chăm sóc người bệnh suy tim, giúp phòng ngừa các biến chứng nguy hiểm của bệnh lý này, Trung tâm Truyền thông BV ĐHYD phối hợp cùng Công ty TNHH AstraZeneca Việt Nam thực hiện chương trình tư vấn Hiểu đúng - Sống khỏe với chủ đề “Chăm sóc người bệnh suy tim”, theo dõi tại Chương trình cung cấp thông tin về các biến chứng của bệnh, phương pháp điều trị và chăm sóc đúng cách giúp nâng cao hiệu quả điều trị và chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
cham soc nguoi benh suy tim